Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2023

HƯỚNG VỀ ĐẠO PHẬT

Phật Adi Đà
 Ngày nay đạo Phật là một trong số 15 tôn giáo lớn ở Việt Nam. Phật giáo chiếm khoảng 15% dân số Việt, ước chừng cả nước có 15 triệu tín đồ Phật tử. Phật giáo cũng đã củng cố được hệ thống đào tạo cho các tăng ni từ cấp cơ sở cho đến cấp Trung ương, trình độ từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học. Nhiều tu sĩ đã bảo vệ thành công Luận án TS Phật học hoặc các chuyên ngành liên quan. Gần đây nhiều tín đồ Phật tử cũng như con em của họ cũng được gửi vào chùa theo các khóa tu ngắn hạn. Sau đây ta tìm hiểu hai Đức Phật chính, trong lịch sử Phật giáo nguyên thủy, theo bài viết của tác giả Thanh Hiền (Phòng QLHV) Bảo tàng Lịch sử VN. 
Phật Thích Ca.

NHẬN BIẾT PHẬT THÍCH CA MÂU NI VÀ PHẬT A DI ĐÀ. 

Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Theo các tài liệu lưu giữ đến nay thì Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử. Là hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca - thuộc đất nước Ấn Độ ngày nay, Ngài sinh vào khoảng năm 624 TCN. Thái tử Tất Đạt Đa đã phát tâm rời khỏi hoàng cung, tu học Phật quả sau khi chứng kiến những cảnh khổ đau của những người già rồi bệnh tật, qua đời và lại thấy vẻ ung dung thanh thản của một vị tu sĩ lúc bấy giờ. Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ cõi Ta bà (đau khổ), là thế giới mà chúng ta đang sống. Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ, có nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang, có nghĩa là ánh sáng vô lượng. Phật A Di Đà cai quản cõi Cực lạc (an vui) ở phương Tây. Ngài có nhân duyên hóa độ chúng sinh ở thế giới Ta bà này. 

Để nhận biết Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà qua hình dáng tôn tượng, tranh thờ, trong bài viết này chúng tôi xin đưa ra một vài đặc điểm chính như sau: Phật Thích Ca Mâu Ni: Về hình dáng đặc trưng: Tóc có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc. Mặt Phật tròn, cằm vuông vức, nơi ấn đường (chỗ đầu hai lông mày giao nhau) có nốt ruồi đỏ. Tai dày, tròn, đầy đặn, thành quách phân minh, sắc trắng hơn mặt. Phật mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, nếu có hở ngực thì trước ngực không có chữ Vạn. Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư. Về tư thế tay: Tay Phật có thể xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân (tay trái hướng vào thân, tay mặt hướng ra, trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn, hai vòng tròn đó chạm nhau) hoặc ấn kim cương hiệp chưởng (với đầu ngón tay của hai bàn tay chắp vào nhau, biểu hiện cho tín tâm bất động, vững chắc như kim cương)… Hoặc tay Ngài ở ấn xúc địa (tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước, trên tay trái là một chiếc bát); Phật thủ ấn vo úy (tay mặt đặt ngang tầm vai, các ngón tay hướng về phía trước). Có thể Phật đang cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, chứng tỏ là dấu hiệu của giáo chủ. 

Về các nhân vật đi kèm: Phật Thích Ca Mâu Ni có thể được minh họa cùng hai vị tôn giả , đó là: Ca Diếp (vẻ mặt già, bên trái) và A Nan Đà (vẻ mặt trẻ, bên phải). Hai vị là hai đệ tử của Ngài khi còn ở trên thế gian. Ngoài ra, có tôn tượng và tranh vẽ Phật Thích Ca sơ sinh với một tay chỉ thiên, một tay chỉ địa và Phật Thích Ca nhập diệt (nhập niết bàn) với tư thế nằm nghiêng mình sang phải. Phật A Di Đà: Về hình dáng đặc trưng: trên đầu Phật có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông, cứu độ, khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây), áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có nhữ Vạn. Về tư thế tay: Phật có thể trong tư thế đứng (gọi là Di Đà phóng quang), tay làm ấn giáo hóa (tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía trước, trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau làm thành vòng tròn). Phật cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Có thể trên tay Phật giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ. Ở tượng Phật A Di Đà có một dạng khác của ấn thiền là các ngón tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành hai vòng tròn chạm nhau. Cho nên ấn này còn được gọi là Ấn thiền A Di Đà. 

Về nhân vật đi kèm: Phật thường được minh họa cùng hai vị là: Bồ Tát Quán Thế Âm (bên trái, cầm cành dương liếu và bình cam lộ) và Bồ Tát Đại Thế Chí (bên phải, cầm bông sen xanh). Tóm lại, sự khác biệt giữa hai tôn tượng, tranh thờ Phật Thích Ca và Phật A Di Đà qua một vài đặc điểm của biểu tướng sau: Phật Thích Ca thường trong các chùa Phật giáo Bắc tông (Đại Thừa) đều thờ Ngài ở chính giữa chính điện. Nên gọi Ngài là đấng Trung Tôn, vì Ngài là vị Giáo chủ cõi Ta bà này. Hình tượng Ngài không nhất thiết phải giống người Ấn Độ, vì theo quan niệm Phật giáo Bắc tông, nhất là Thiền tông cho rằng, mỗi người đều có ông Phật (Phật tính) nên người nước nào tạc tượng giống người nước đó. Từ nét mặt cho đến hình tướng. Nên hình tượng thờ trong các chùa không nhất thiết phải giống nhau. Đó là xét về đại thể, còn về chi tiết thì tương đối giống nhau. Phật A Di Đà: thông thường có 2 tượng mà chúng ta thường thấy là tượng Ngài ngồi kiết già trên tòa sen và tượng Di Đà phóng quang. 

Tượng A Di Đà đứng có 2 vị theo bên cạnh là đại Bồ tát Quán Âm và Thế Chí (Tượng Tam Thánh). Về tượng ngồi có sự khác biệt giữa hai tôn tượng như sau: - Tượng Phật Thích Ca không bao giờ duỗi cánh tay. - Tượng Phật Thích Ca thường đắp y choàng qua cổ không có đắp y khoát vuông để trống trước ngực không có chữ Vạn. Ngược lại, tượng Phật A Di Đà có đôi khi được tạc Ngài ngồi tư thế kiết già và duỗi xòe bàn tay mặt. Y khoát cổ vuông và trước ngực có chữ Vạn. Đây là hai nét chính khác với tượng Phật Thích Ca. 

Nguồn: Theo Thanh Hiền (Phòng QLHV).

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2023

VẤN ĐỀ VIỆT HÓA BÀI VĂN TỀ VÀ VIẾT BÀI VỊ NGƯỜI QUÁ CỐ

 Biên tập viên

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ trước tới nay ông cha ta khi soạn Văn tế hoặc viết bài vị người quá cố, thường sử dụng dạng hành văn cổ. Trong đó có các từ Hán Việt. Các ngoại ngữ thường có cấu trúc: tính (trạng) từ trước, danh từ sau.

Ví dụ theo cấu trúc Hán Việt: Việt Nam Quốc. Còn tiếng Việt: Nước Việt Nam. Hoặc: Cố phụ. Nghĩa tiếng Việt: người cha vừa mới mất. Tế lập phục, hiểu theo phong tục Việt: là lễ tế phát tang. Linh sàng: nghĩa là cái giường cho linh hồn nằm. Linh vị: vị trí đặt thẻ bài thờ người đã chết. Cô ai tử: nghĩa tiếng Việt là người con đã mất cả cha và mẹ …

 Gần đây một số Cơ quan Văn hóa cấp huyện hoặc cấp tỉnh đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến các vị cao tuổi có kiến thức văn hóa và chữ Hán Nôm, cùng các chuyên gia, đánh giá và đưa ra phương án Việt hóa các bài Văn tế và ghi bài vị thờ cúng người đã khuất. Sau đâu Biên tập viên Họ Cao Trần, xin đề xuất và mong được góp ý để khi dự các đám tang, nghe đọc văn tế hiểu ngay được các câu từ mà trước đây các quý vị còn thắc mắc. Tất nhiên không tránh khỏi ý kiến trái chiều, kính mong các vị lượng thứ.

 ĐOẠN MỞ ĐẦU VĂN TẾ VIỆT HÓA

 Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Tỉnh Nam Định, huyện Giao Thủy, xã Giao Tiến. Xóm 12.

Hôm nay: ngày  tháng   năm (Tý, Sửu, Dần…). Tức là ngày: …..

Người con trai mất (cha, mẹ, hoặc cả cha và mẹ) là ông: Cao ….

Vâng mệnh dòng họ Cao Trần và trước ban thờ người mẹ (cha) vừa quá cố là cụ Hoàng Thị XX… Hiệu Diệu YY… Sinh năm: 19?? (GT??) mất hồi: ?? giờ ngày ?? tháng ?? năm (ĐD) tức là ngày:  tháng   năm  202? Dương lịch. Hưởng thọ 99 tuổi.

Dòng họ Cao Trần cùng gia đình con cháu tổ chức Lễ tế phát tang và báo tang, về việc người mẹ (cha) của chúng tôi vừa qua đời, cùng họ hàng nội ngoại, người thân, thông gia và toàn thể bà con bạn bè xa gần, được biết.

Con cháu chắt nội ngoại thuộc hàng chịu tang cụ bà (ông), có danh sách như sau:

-         Con trai:

-         Con dâu:

-         Con gái:

-         Con rể:

-         Cháu nội trai:

-         Cháu dâu nội:

-         Cháu nội gái:

-         Cháu rể:

-         Cháu ngoại trai:

-         Cháu dâu ngoại:

-         Cháu ngoại gái:

-         ...

Ghi chú: Những chữ gạch chân trên đây cần soạn lại theo từng đám cụ thể.

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2023

NGÀY GIỖ THÁI TỔ HỌ CAO TRẦN GIAO TIẾN 18 THÁNG GIÊNG NĂM QUÝ MÃO (08-02-2023)

Trong ngày giỗ Thái tổ năm nay, thay vì đưa tin và hình ảnh con cháu về chiêm bái giỗ tổ tại từ đường họ Cả tại quê nhà Giao Tiến. Biên tập viên Họ Cao Trần tranh thủ chụp ảnh câu đối đại tự, biên dịch phiên âm Hán Nôm các bộ câu đối đại tự, trong và ngoài nhà thờ họ Cả, nhà lưu niệm.

Đây cũng là hình thức bảo lưu Văn hóa phi vật thể, kể từ khi tổ tiên ta về ấp Hòe Nha thay tên đổi từ họ Trần thành họ Cao, cho đến ngày nay họ ta đã là dòng họ lớn, đông con cháu có danh xưng trong làn trong huyện. 

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

BIÊN DỊCH CÂU ĐỐI CUỐN THƯ ĐẠI TỰ NHÀ THỜ ẤT PHÁI

 Cao Xuân Thiện 

I.                  ĐẠI TỰ CÂU ĐỐI CỔNG TAM QUAN

1.     Đại tự trên cổng (xin đối chiếu từ phải sang trái)

      高 族乙派

CAO TRẦN TỘC ẤT PHÁI

2. Bộ câu đối 2 bên trụ cổng tam quan

仙祖千年扶後裔. (chữ 仙 đúng ra phải là chữ 先)

 子孫萬代奉前人

TIÊN TỔ THIÊN NIÊN PHÙ HẬU THẾ

TỬ TÔN VẠN ĐẠI PHỤNG TIỀN NHÂN

II.               CÂU ĐỐI TRƯỚC HIÊN

1.     Bộ câu đối gian giữa

高堂德址仁基自家保重

CAO ĐƯỜNG ĐỨC CHỈ NHÂN CƠ TỰ GIA BẢO TRỌNG

陳系家風官泰原道𪽋  (𪽋 đúng ra  phải là chữ )

TRẦN HỆ GIA PHONG QUAN THÁI NGUYÊN ĐẠO LƯU TRUYỀN

          Dịch nghĩa:

          Dòng họ Cao nền nhân móng đức từng nhà tự giữ gìn

          Nhánh họ Trần tập quán quan sang đạo gốc lưu truyền.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2023

LỜI THỈNH CẦU ĐẦU NĂM

 BIÊN TẬP VIÊN

Nhân dịp Xuân mới Quý Mão, Biên tập viên xin trân trọng gửi lời kính chúc sức khỏe vạn niềm vui, an khang thịnh vượng và vạn sự như ý tới các Cụ hàng Thập, các cụ ông, cụ bà, các bậc cha bác, anh chị em con cháu chắt, nội ngoại thuộc dòng họ Cao Trần.
Trải qua 2 năm bệnh dịch covid 19, nhiều hoạt động cộng đồng và tâm linh đều bị giới hạn. Năm mới này mở ra nhiều hoạt động Văn hóa cộng đồng và dòng họ. Dịp Rằm tháng Giêng, làng Hoành Nha mở lễ hội truyền thống. Tiếp theo ngày 18 tháng Giêng là ngày lễ giỗ Thái tổ, tự Vô Ý và cũng là ngày giỗ Thái tổ Thượng Hoàng Trần Thừa của Vương triều họ Trần, Việt Nam.

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2022

CÁC THẾ HỆ CON CHÁU CHI TỔ ĐỨC BẰNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TÂM LINH TRI ÂN CÁC BẬC TIỀN NHÂN

Tổ Cao Đức Bằng hiệu Lương Phủ, đời thứ 8 Ất phái, cành Cả họ Cao Trần. Tổ sinh năm: Giáp Tuất (1814), mất ngày: 12 - 7 năm Mậu Tý (1888), thọ 75 tuổi. Mộ quy lăng nghĩa trang Bách Linh, thôn Quyết Tiến. 

Tổ là con trai thứ hai của tổ Đức Trứ (đời thứ 7). Cụ thông minh, hiếu học, từ nhỏ theo học danh sỹ Hoàng Kỳ Nho. Năm 23 tuổi làm Phó tổng, năm 32 tuổi làm Cai tổng Hoành Nha. Năm đó 2 vị hào lý trong làng lạm thuế, Tổ tố giác được, triều đình trao thưởng: Cửu phẩm Bách hộ.

Tổ đã cùng với bác là Cao Danh Quán, anh rể là Vũ Xuân Đồng đấu tranh với cánh hào, lý trong làng lấn chiếm đất công điền làm tư điền, lấy lại được 6 mẫu ruộng công điền và 12 mẫu trong nội làng. Tổ thống nhất cùng dân xã: trích một phần quân cấp cho các họ làm tộc điền, phần để khen thưởng các bà tiết phụ và yến lão các cụ trong xã. 

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

VỤ ÁN NĂM HỒNG PHÚC (1572), VUA LÊ ANH TÔNG BỊ BỨC TỬ

 Trần Phước Bình

Chính sử (ĐVSKTT) năm Nhâm Thân, Hồng Phúc thứ 1(1572) viết: “mùa xuân tháng giêng vua tế trời đất ở đàn Nam Giao. Khi làm lễ, vua bưng lư hương khấn trời xong, bỗng lư hương rơi xuống đất. Vua biết là điềm chẳng lành, bèn xuống chiếu đổi niên hiệu thành Hồng Phúc năm thứ 1... Mùa đông tháng 11 ngày 21, Lê Cập Đệ từng có chí khác, định mưu hại Tả tướng Trịnh Tùng. Tả tướng giả vờ không biết, gửi biếu nhiều vàng. Khi Cập Đệ đến tạ ơn, Tùng sai đao phủ phục ở dưới trướng bắt giết đi rồi sai người nói phao lên rằng Cập Đệ mưu làm phản, vua sai ta giết chết, tướng sĩ các ngươi không được sợ hãi, kẻ nào chạy trốn làm phản thì phải giết cả họ. Thế là quân lính đều khiếp sợ, không ai dám hành động … 

THÀNH NGỮ KIẾN GIẢ NHẤT PHẬN

Cao Xuân Thiện 

Trong đời sống tình cảm gia đình nội tộc, có lần ta nghe ai đó nói: “anh em kiến giả nhất phận”. Ý muốn nói dù là anh chị em ruột thịt trong gia đình, phận ai người đó tự lo, tự chủ động thu xếp, lập kế hoạch tạo dựng cho cuộc sống của riêng mình mà không trông chờ ỷ lại người khác, kể cả anh chị em ruột, giàu có hơn mình. Đừng trông chờ vào lòng thương xót, bố thí lâu dài. Đó cũng chính là động lực để anh em trông nhau mà phấn đấu phát triển cuộc sống cho riêng mình.

Thực chất cụm từ “kiến giả nhất phận” là thành ngữ Hán Việt - 建者一分, chữ còn có âm là “phần”.

AN NHIÊN TỰ TẠI

Cao Xuân Thiện

 
Lời thỉnh cầu cho chính mình hoặc lời an ủi cho bạn bè, sau khi vượt qua biến cố của cuộc đời, hoặc khi tuổi đã xế chiều, chấp nhận cuộc sống yên phận ẩn dật, đó là câu thành ngữ “An nhiên tự tại”.

Về ý nghĩa chung của câu thành ngữ này theo Đại từ điển tiếng Việt: là trạng thái không có điều gì lo lắng buồn phiền. 

Theo tôi hiểu từ các sách nhà Phật, muốn “an nhiên tự tại” thì phải buông bỏ “tham sân si”, hài lòng với những gì mình có: “yên phận” (an phận thủ thường).

Trong cuộc sống hiện đại diễn ra nhanh và gấp gáp, có rất nhiều thông tin và nhiều mối quan hệ cần được xử lý một cách hài hòa, nhiều khi đó là cả một áp lực. Nhiều nhà khoa học kĩ thuật đánh giá: “giải bài toán xã hội khó hơn nhiều so với bài toán kĩ thuật”. 

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2022

TÌM HIỂU CÁCH LẬP VÀ VIẾT BÀI VỊ THỜ CÚNG NGƯỜI ĐÃ KHUẤT THỜI TRƯỚC KIA VÀ HIỆN NAY

 Biên tập viên

Thông qua việc tra cứu biên dịch gia phả và cộng tác với ông chủ biên viết gia phả dòng họ, tôi có dịp được tra cứu biên dịch thông tin từ bài vị trong các nhà thờ của dòng họ.

Theo bài viết trên trang Blog Baolongbrass.com đã viết:

…“Bài vị hay còn được gọi là long vị dùng để đề tên người đã khuất (tương đồng như di ảnh thờ) trên bàn thờ gia tiên. Bài vị là một cái thẻ làm bằng giấy hoặc bằng gỗ mỏng, giữa ghi họ tên chức tước, hai bên ghi ngày tháng năm sinh, tử của người được thờ, gọi là thần chủ. Những gia đình có điều kiện thường đặt bài vị trong cỗ khám, hoặc cỗ ngai. Ngày nay, vì bài vị là vật cần được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Ý nghĩa bài vị trên bàn thờ cúng gia tiên

- Theo tín ngưỡng văn hóa phương Đông, bàn thờ gia tiên là nơi linh thiêng nhất của ngôi nhà, được xem là "chốn về ngự" của gia tiên, thần linh. Người Việt quan niệm rằng "trần sao âm vậy", con cháu muốn cuộc sống được no đủ, bình an thì bàn thờ gia tiên phải luôn đầy đủ, tươm tất, có như vậy thì bề trên mới phù hộ độ trì cho gia đình, dòng tộc.