Thời kì cuối nhà Lê, sang thời Quang Trung, rồi kế tiếp đến thơi nhà Nguyễn, làng Hoành Nha trong gia đoạn định hình làng xã. Các công trình tâm linh, chùa đền dần dần được xây dựng ở các thôn: Thượng, Trung, Chính. Năm 1789 thôn Thượng đã vận động công đức đúc quả chuông chùa của thôn. Họ Cao Trần ngoài việc tiến cúng tiền, vàng công sức vào việc xây dựng chủa miếu còn tiến cúng các đồ thờ tế khí. Quả chuông chùa bằng đồng thau, được đúc vào mùa Xuân năm Kỷ Sửu (1829), hiện nay vẫn được lưu giữ. Trên quả chuông có bài Minh, ghi rõ công đức của tổ tiên ta, như gia đình hai cụ Cao Đức Mậu (đời thứ 6). Cụ Cao Đăng Phong, cụ Cao Đức Trứ, cụ Cao Đức Trạch (đời thứ 7), cụ Cao Đức Tương (đời thứ 8) và có cả bà tiết phụ người họ Cao...
Bài viết muốn truyền tải đến thế hệ
sau, công đức của tổ tiên họ Cao Trần đến các hậu duệ dòng họ và tương tác với
các họ bạn trong cộng đồng làng xã xưa và nay.
TÊN BÀI MINH: 興安寺鐘 (HƯNG AN TỰ CHUNG - Chuông chùa Hưng An).
1. Phần văn bản Hán Nôm (Trích đoạn bài
minh):
興安寺鐘
鐘也者,樂器之大,而尤禪家之所珍也。夫佛以色相求,鐘以音聲來,則鐘為梵教之助良不少矣!
我興安寺景興前原有鐘,昭統後纔収鯨響,對景遐思,有心者原同感慨。己丑春會料,己丑夏鐘成。其質瑩然,其聲鐘然而響亮,固知本大慈悲之教與限量也。
雖然完此善果,固不持拓於一鄉,而且公心於登石。茲記鑄鐘之年月,因信供以凋 ...
錄簿上姓名而刻之, 以垂不朽云!
天長府膠水縣橫衙社上村等刻造鑄洪鍾, 完有會主興功進供具列于左:
一會主: 高德茂, 妻武氏聘供古錢三十貫.
一興功以下:
武廷榴, 高德著, 武必達, 高德相,
高登豐, 高德澤,黃世情,
高氏
興功高德著畢.
2. Phần phiên âm Hán-Việt
Chung dã giả, nhạc khí chi đại, nhi
vưu thiền gia chi sở trân dã. Phù Phật dĩ sắc tướng cầu, chung dĩ âm thanh lai,
tắc chung vi phạn giáo chi trợ, lương bất thiểu hỹ!
Ngã Hưng An tự, Cảnh Hưng tiền nguyện
hữu chung, Chiêu Thống hậu tài tu kình hưởng, đối cảnh hà tư, hữu tâm giả
nguyên đồng cảm khái. Kỷ Sửu xuân hội liệu, Kỷ Sửu hạ chung thành, kỳ chất oánh
nhiên, kỳ thanh chung nhiên nhi hưởng lượng, cố tri bản đại từ bi chi giáo vô hạn
lượng dã.
Tuy nhiên hoàn thử thiện quả, cố bất
tri thác ư nhất hương nhi thả công tâm ư đăng thạch. Tư ký chú chung chi niên
nguyệt, nhân tín cung dĩ điêu?...
Lục bạ thượng tính danh nhi khắc chi
, dĩ thuỳ bất hủ vân!
Thiên trưởng phủ Giao Thuỷ huyện Hoành Nha xã Thượng thôn đẳng khắc tạo chú hồng chung, hoàn hữu hội chủ hưng
công tiến cung cụ liệt vu tả:
Nhất hội chủ: Cao Đức Mậu, thê Vũ Thị
Sính cúng cổ tiền tam thập quán.
Nhất hưng công dĩ hạ:
Vũ Đình Lựu, Cao Đức Trứ , Vũ Tất Đạt,
Cao Đức Tương, Cao Đăng Phong , Cao Đức Trạch, Hoàng Thế Tình, Cao Thị...
Hưng công Cao Đức Trứ tất .
3. Dịch nghĩa bài Minh Chuông chùa Hưng
An (Hưng An Tự Chung)
Chuông chùa Hưng An
Chuông là nhạc khí lớn trong các loại
nhạc khí và lại càng là vật trân quý của nhà chùa. Đức Phật dùng sắc tướng để độ
người, chuông dùng âm thanh để gọi tỉnh thần, thế nên chuông giúp ích cho Phật
giáo không hề nhỏ!
Chùa Hưng An ta, trước thời Cảnh Hưng
vốn đã có chuông. Sau niên hiệu Chiêu Thống, tiếng tiếng chuông tạm thời lặng
im. Đối cảnh nhớ xưa, người có tâm không khỏi cùng chung cảm khái.
Mùa xuân năm Kỷ Sửu (1829) họp bàn định
liệu, mùa hè năm Kỷ Sửu đúc xong chuông. Chất chuông sáng bóng, tiếng chuông
vang dội thanh tao, đủ biết đó là nhờ giáo pháp từ bi rộng lớn và sự đồng lòng
không giới hạn vậy.
Tuy nhiên, để hoàn thành quả phúc tốt
đẹp này, không chỉ nhờ vào sự đóng góp của một làng, mà còn nhờ lòng công đức của
các bậc thiện nam tín nữ. Nay ghi lại ngày tháng đúc chuông, nhân đó chép danh
tính những người cung tiến vào sổ bộ và khắc lên chuông để lưu truyền bất hủ!
Danh sách hằng tâm hằng sản:
Các thôn Thượng... thuộc xã Hoành
Nha, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường cùng khắc tạo đúc chuông lớn. Các vị Hội
chủ, Hưng công và người tiến cúng được liệt kê dưới đây:
·
Một vị Hội chủ: Cao
Đức Mậu cùng vợ là Vũ Thị Sính, cúng tiến 30 quan tiền cổ.
·
Các vị Hưng công trở xuống:
Vũ Đình Lưu
Cao Đức Trứ
Vũ Tất Đạt
Cao Đức Tương
Cao Đăng Phong
Cao Đức Trạch
Hoàng Thế Tình
Cao Thị...
·
Người hoàn tất việc hưng công: Cao Đức Trứ.
(Ảnh chuông cổ có tính chất
minh họa).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét