Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

TIẾNG VIỆT KỲ DIỆU: Hành trình từ chữ Nho, chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành
Đã hơn trăm năm nay nước ta chính thức sử dụng chữ Quốc ngữ, thứ chữ viết được các nhà trí thức tiên tiến đầu thế kỷ XX ca ngợi là Hồn trong nước; Công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt và tin rằng Nước Nam ta sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ.
Dư luận nước ta trước đây quy công trạng làm ra thứ chữ kỳ diệu ấy cho giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes. Gần đây lại có dư luận yêu cầu ghi công các giáo sĩ không phải người Pháp như Francisco de Pina, António Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes… và đóng góp của giáo dân miền Nam nước ta từng giúp các giáo sĩ đó học tiếng Việt, và đóng vai trò “giám định” trong quá trình thí điểm sử dụng thứ chữ mới ấy.
Đáng tiếc là cho tới nay công luận ở ta vẫn chưa nhất trí chọn được các nhân vật tiêu biểu làm ra chữ Quốc ngữ, và cơ quan chính quyền liên quan cũng chưa dứt điểm giải quyết vấn đề này. Để tình trạng đó kéo dài sẽ không có lợi cho hình ảnh một dân tộc văn minh. Đã đến lúc cần bàn thảo rộng rãi và sớm có hành động tri ân những người xứng đáng ghi công. Bài này nhằm góp một ý kiến bàn thảo. Vì người viết ít hiểu biết về ngôn ngữ học nên ý kiến nêu ra khó tránh khỏi có sai sót, mong được bạn đọc chỉ bảo.

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2020

CON CHÁU HẬU DUỆ HỌ TRẦN LUÔN KIÊN ĐỊNH BẢO VỆ SỰ TRONG SÁNG CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC VÀ LỊCH SỬ VƯƠNG TRIỀU TRẦN

Nguồn từ FB Trần Nguyên Trung
Như chúng ta đã biết, nhà Trần là một trong những triều đại hiển hách, hào hùng nhất gắn liền với lịch sử dân tộc với 3 lần chiến thắng giặc Nguyên-Mông, trở thành niềm tự hào của mọi con dân đất Việt, đặc biệt là con cháu hậu duệ họ Trần hôm nay và mai sau.
Để phát huy truyền thống tốt đẹp HÀO KHÍ ĐÔNG A, năm 1995, BLL họ Trần VN được thành lập, là cầu nối để gắn kết dòng họ, tri ân tổ tiên, vận động con cháu tích cực tham gia trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

CHUNG QUY LÀ TẠI CÁI MIỆNG - KHẨU NGHIỆP 口業


Trong Phật giáo có cụm từ Khẩu nghiệp 口業 có nghĩa là: sự quả báo sinh ra từ lời nói.
Bên cạnh đó có thành ngữ: Bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất - 病從口入,禍從口出. Bệnh hay vào từ miệng mà vào, tai họa hay đến từ lời nói mà ra.
Bởi thế cái miệng quan hệ đến vận mệnh nhân sinh của mỗi cá nhân nhiều lắm.
Cái miệng của mỗi chúng ta đa chức năng trong đó có chức năng là cái cổng vào/ra – nhập xuất song công – In/out Gate.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

ĐỨC MẸ HIỀN 9 CHỮ CÙ LAO



Về quê tôi xuống thăm ông họ Cao Uy Tín. Ông cháu nói chuyện việc họ sau đó ông nhờ tôi tìm hiểu ba chữ “Đức cù lao 德劬勞”
Trước hết về nghĩa Hán Việt của chữ Đức cù lao 德劬勞
Chữ Đức 德: ân đức, đạo đức, thiện.
Chữ Cù 劬: nhọc nhằn, vất vả.
Chữ Lao 勞: lao động, làm việc.
Cụm từ Cù lao 劬勞: Công lao cha mẹ nuôi con vất vả nhọc nhằn.
Như vậy Đức cù lao nói về ân đức công lao cha mẹ đối với con cái.
Sau đây kính mời ông Tin Caouy và độc giả tham khảo (nguồn Chùa Ba Vàng) bài viết: Chín chữ cù lao – khắc sâu công ơn của mẹ.
“Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông
Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

HẬU SINH KHẢ ÚY VÀ XUẤT PHÁT CỦA TỪ THẦN ĐỒNG


(Tài liệu trích dẫn online và nguồn cảm hứng của bác họ Cao Đăng Rong)
Khổng Phu Tử (tiếng Trung: 孔夫子) hoặc Khổng Tử (tiếng Trung: 孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khưu (chữ Hán: 孔丘; 28 tháng 9, 551 TCN - 11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲尼). Ông được suy tôn như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

KHÚC NGUYỆN CẦU TRONG NGÀY GIỖ CHA


     Cao Xuân Thiện
Cha tôi đã rời cõi tạm đã tròn 10 năm. Lần giỗ thứ 10 này tôi đành lỗi hẹn với người thân, không thế có mặt tại quê nhà trong ngày giỗ Cha tôi. Một nén tâm nhang để vợi đi nỗi niềm của người con xa quê.
(Sau 10 năm Người khuất bóng. Mùng 8 tháng Tư năm Canh Tý)
Con từng ước Cha trăm tuổi Hạc
Khỏe mãi vui tóc bạc da mồi
Áo khăn sắc đỏ rạng ngời
Lễ mừng Đại thọ bồi hồi hư không.
Con đã cố gắng công học nghiệp
Để góp phần làm đẹp lòng Cha.
Công danh mẫn tiệp đường xa
Bước đi mấy độ con đà dần buông.
Cha Mẹ khuất, con vương vấn mãi
Nỗi buồn thương khắc khoải bủa vây
Đếm năm tính tháng nhớ ngày
Cha đi Hạ ấy đến nay tròn Mười.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

ĐỌC LẠI LƯU QUANG VŨ ĐỂ YÊU TIẾNG VIỆT NHIỀU HƠN



TIẾNG VIỆT
                                   Lưu Quang Vũ

                        Giọng ngâm Phan Xuân Thi

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

VỢ CHỒNG LÀ NGHĨA TAO KHANG

Cao Xuân Thiện
Sau khi viết bài về chủ đề Hôn nhân, bạn bè động viên người viết cũng thấy hiệu quả sau hơn một năm thử sức học chữ vuông thời nay chẳng ai muốn học. Bác Bảy đề nghị tôi chiết tự chữ Hạnh phúc, nhưng tôi thấy khó viết về 2 chữ này. Nay đọc sách thấy có chữ Tào Khang (thực ra là Tao Khang 糟糠 do cách đọc chệch đi của người Việt) lại gắn với vợ chồng. Chúng ta thử đi tìm hiểu điển tích của những chữ này.

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

THỬ TÌM HIỂU KHÁI NIỆM HÔN NHÂN

Cao Xuân Thiện
…“Hôn nhân lộc của Trời ban
Dở hay tùy biến khôn ngoan được nhờ”…
Từ khi lớn lên lập gia đình ai cũng hiểu “Hôn nhân” là việc lấy vợ, lấy chồng của đôi nam nữ, hoặc việc dựng vợ gả chồng của Nhà trai và Nhà gái. Chúng ta thử đi sâu tìm hiểu cặp từ Hán Việt này.
Gần đây từ “Hôn” có thể được coi là mĩ từ. Các nước phương Tây coi việc hôn như một nghĩa cử văn hóa xã giao có nguyên tắc. Ở xã hội phong kiến Việt Nam việc hôn nhau là cả một vấn đề hệ trọng. Đôi bạn trẻ trao cho nhau nụ hôn đầu, đó là sự xúc cảm hay chấp nhận một sự chuyển giai đoạn trong quan hệ. Còn nhiều tình huống và cách lí giải nữa mà tôi không thể đi sâu chi tiết.

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

BIÊN DỊCH GIA PHẢ HÁN NÔM VIỆT

BIÊN DỊCH HÁN NÔM VIỆT
CAO TRẦN TỘC THẾ THỨ PHẢ LỤC TỰ
LỜI MỞ ĐẦU

NGUYÊN - THỦY - BẢN - MỘC
Dòng họ Cao Trần tại xã Giao Tiến huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định ngày nay, theo các tài liệu sử phả truyền lại, có nguồn gốc từ họ Trần. Phúc đức và may mắn hơn nữa dòng họ còn lưu truyền và giữ lại được bộ Gia phả bằng chữ Hán, ghi lại thông tin từ đời thứ Nhất đến đời thứ 9.

Bộ gia phả quý của dòng họ hiện còn lưu giữ, được nhiều thế hệ Tổ tiên ông cha cung cấp thông tin và chắp bút qua nhiều thế hệ và là công việc của cả dòng họ trong rất nhiều năm. Thái tổ Vô Ý từ Bến đò Mía xã Thịnh, huyện Mỹ Lôi Dương, tỉnh Thanh Hóa. Nay là thôn Tứ Trụ, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa vì binh biến Thái tổ đã đưa Thái tôn về vùng đất mới làng Hòe Nha, phủ Xuân Trường trấn Sơn Nam hạ, nay là xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Thái tổ đã thay tên đổi họ sống cuộc sống dân dã để tính kế sâu rễ bền gốc. Các thế hệ từ đời thứ 3 đã được cha ông cho theo học chữ nghĩa và ra làm việc làng, việc nước. Thái tôn đã đóng góp tiền của và quy Phật hậu ở cả hai chùa Hưng Long và Hưng An trong làng và đã được tạc tượng thờ cúng cho đến ngày nay.