Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

TÓM TẮT THÂN THẾ SỰ NGHIỆP TẢ TƯỚNG QUỐC TRẦN NGUYÊN HÃN

Đức Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn sinh vào thời kỳ đất nước có nhiều biến động ở cuối thế kỷ XIV. Nhà Trần suy yếu, Hồ Quý Ly rắp tâm thoán đoạt ngôi vua, đã thẳng tay giết hại tôn tộc nhà Trần. Trước họa tru diệt huyết thống đó, năm Ất Sửu (1385), Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán, lúc này về trí sĩ tại Côn Sơn (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), phải cho con trai là Trần Án cùng con dâu Lê Thị Hoàn đang mang thai được ba tháng từ Chí Linh lên làng Quan Tử, [1] trang Sơn Đông, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây – nay là xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc - để lánh nạn. Cùng đi, có một vị tướng già tâm phúc của gia đình cụ Trần Nguyên Đán ủy thác giúp đỡ.   

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

BÀN VỀ VIỆC HỌ (Phần 1 và 2.1)

Tiến sĩ: NGUYỄN VĂN HOA
1- Sự cần thiết nghiên cứu đề tài này:
Bên cạnh văn bia Đình, chùa, miếu, đền thì văn bia ở các nhà thờ họ là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng phong phú cho chúng ta hiện nay. Từ khi có đổi mới không chỉ đời sống vật chất được nâng cao mà đời sống tâm linh của từng gia đình, từng dòng họ đã được quan tâm đúng mức. Nhà thờ cũ thì được trùng tu. Nhiều dòng họ đã gom góp tiền của công sức để xây mới một nhà thờ họ của Họ mình. Hoặc giả một chi nào đó cũng làm nhà thờ chi họ để tưởng nhớ về nơi quê hương bản quán của mình.

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

VIẾT VỀ TẢ TƯỚNG QUỐC TRẦN NGUYÊN HÃN

 Thân thế sự nghiệp Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn do hậu duệ của Người biên soạn lần đầu vào tháng 4/2011. Đây là tập sách quý được sưu tập, nghiên cứu, phân tích và biên tập công phu.
Song với tinh thần góp ý, bổ sung nhằm làm sáng tỏ hơn sự nghiệp cao cả của Người, tôi xin được tham gia mấy ý kiến nhỏ như sau:

1. Về lời bình của các tác giả đương đại: Trần Quốc Vượng – Nguyễn Quang Trung Tiến – Thiều Việt:
Trước hết xét về hai tác giả Phan Phu Tiên và Ngô Sĩ Liên người trực tiếp biên soạn ĐVSKTT từ Kỷ Nhà Trần đến Kỷ Nhà Lê. Trong đó Quyển X (BK10) có liên quan trực tiếp đến thân thế sự nghiệp của Trần Nguyên Hãn:
Phan Phu Tiên: Đỗ Thái học sinh vào khoa thi cuối cùng của triều Trần năm 1396, rồi lại trúng tuyển kỳ thi Minh kinh đầu triều Lê năm 1429. Ông giữ chức An phủ phó sứ phủ Thiên Trường, từ năm 1448 về Kinh làm Quốc tử giám bác sĩ tri Quốc sử viện. Diên Ninh năm thứ 2 (1455), Lê Nhân Tông “sai Phan Phù Tiên soạn Đại Việt sử ký từ Trần Thái Tông đến khi người Minh về nước” (BK11, 90a). Lời tựa của Ngô Sĩ Liên trong ĐVSKTT cũng nói rõ: “Bản triều, Nhân Tông lại sai quan Tu sử Phan Phu Tiên chép tiếp từ Trần Thái Tông trở xuống cho đến khi người Minh về nước, đều gọi là Đại Việt sử ký
Ngô Sĩ Liên: Đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ 3/1442, đời Lê Thái Tông (1434 – 1442), giữ chức Đô ngự sử đời Lê Nhân Tông (1443 – 1459), rồi Lễ bộ Hữu thị lang, Triều liệt đại phu, kiêm Quốc tử giám tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn đời Lê Thánh Tông (1460 – 1497). Năm 1479, Lê Thánh Tông “sai Sử quan tu soạn Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, 15 quyển” (BK13, 17). Toàn văn bài tựa bộ ĐVSKTT năm 1479 của Sử thần Ngô Sĩ Liên  (Tập I/ ĐVSKTT/2004), cho thấy Phan Phu Tiên sinh thời từ cuối triều Trần đến cuối triều Lê Nhân Tông. Ngô Sĩ Liên làm quan xuyên suốt từ năm đầu Lê Thái Tổ đến cuối triều Lê Thánh Tông, hai tác giả có sự chênh lệch về tuổi tác nhưng cơ bản cùng thời với Trần Nguyên Hãn kháng chiến chống quân Minh, đã kế nối nhau biên soạn chính sử.
Quyển X: kỷ Nhà Lê – Thái Tổ Cao Hoàng Đế do Phan Phu Tiên biên soạn từ mốc năm 1418, đến năm người Minh rút về nước (1427), Ngô Sĩ Liên biên soạn kế tiếp đến cận đại của đương triều. Đối với Trần Nguyên Hãn vị tướng tài, gan dạ trong trận mạc được Phan Phu Tiên ghi chép tương đối rõ. Nhưng đến Ngô Sĩ Liên biên soạn, Trần Nguyên Hãn chỉ thấy xuất hiện một lần duy nhất vào ngày 18/03/1428, đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng (Lần thứ 2 này chỉ ban thưởng cho 3 vị: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo). Sau đó mãi đến kỷ Thái Tông Văn Hoàng Đế, Trần Nguyên Hãn mới được nhắc lại dưới dạng viết gián tiếp nhân sự kiện của người khác có liên quan đến ông.
Điều này, cho thấy Trần Nguyên Hãn hưu quan sau ngày chiến thắng và cái chết sau đó của Ngài là do hành vi bất nghĩa của triều thần trong đó có vua. Cho nên đến cả Sử thần Ngô Sĩ Liên cũng không dám chép ngày tháng năm và nơi Trần Nguyên Hãn trầm mình vào sử. Nhưng với đức độ và tài nghệ của vị sử thần lão thành, Ngô Sĩ Liên đã ghi chép được hoàn cảnh, nguyên nhân cơ bản dẫn đến cái chết của Trần Nguyên Hãn. Đó là: “Thiệu Bình năm thứ 1/1434, tháng 2 ngày mùng 4: Trước kia Thái Tổ khi về già có nhiều bệnh, lại thêm Quận vương (Tư Tề) ngông cuồng, bậy bạ, vua thì còn trẻ thơ, mà Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đều có công lao giúp nước, rất được người đương thời trọng vọng. Nguyên Hãn lại là con cháu nhà Trần và Văn Xảo cũng là người kinh lộ, lo rằng sau này họ có chí khác, nên bên ngoài thì đối xử theo lễ tiết hậu, nhưng trong lòng lại rất ngờ vực hai người.
Bọn Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư đón biết ý vua, dâng sớ mật, khuyên Thái Tổ quyết ý giết đi. Nếu có ai không vui, bọn Quốc Khí liền chỉ vào họ mà bảo họ là bè đảng của hai nhà ấy, nên rất nhiều người bị xử tử và đày đi.....”.
Đến hơn 400 năm sau được vua Tự Đức (1848 – 1883) nhắc lại một lần nữa.

Kế hoạch hãm hại Trần Nguyên Hãn diễn ra theo kịch bản là: Ngày 21/2/1429, vua ra lệnh chỉ cho tướng hiệu và quân nhân các vệ quân năm đạo rằng: “Đến ngày 27 sẽ diễn tập chiến trận thủy, bộ, ai vắng mặt sẽ bị trị tội”. Ngày 26/02/1429, ra lệnh chỉ cho đại thần và các quan Hành khiển. Lại ra lệnh chỉ cho các ngôn quan, đều có nội dung tương tự là trấn an tình hình trong cả nước. Tiếp sau là hàng loạt lệnh chỉ cho các quan lộ, huyện, xã...Đã giúp chúng ta nhận ra việc Trần Nguyên Hãn trầm mình tại bến Đông Hồ vào ngày 26/02/1429 theo sử Sơn Đông là có căn cứ, các lệnh chỉ trong ngày 26/02, và sau đó là để trấn an tình hình sau cái chết oan của Trần Nguyên Hãn đang bị người đời lên án.

Đại Việt sử ký toàn thư (BK11, 90a) đã chép: Thái Hòa năm thứ 11 (1453). Mùa xuân tháng 2 ngày 21, đại xá.
Ngày 21 tháng 11, vua bắt đầu đích thân coi chính sự, đổi miếu hiệu, đại xá. Từ tháng giêng năm sau đổi là Diên Ninh năm thứ nhất.
Các điều lệnh ân xá có: tăng chức 1 bậc cho các công thần Lê Lễ, Lê Bị, Lê Triện. cấp một trăm mẫu quan điền cho bọn Lê Sát, Lê Ngân, Lê Khả, Lê Khiêm, Trịnh Khắc Phục, đồng thời cứu giúp những kẻ không vợ, góa chồng, mồ côi, cô đơn, và biểu dương những người chồng tiết nghĩa, người vợ trinh tiết.
Theo gia phả Sơn Đông, thì Trần Nguyên Hãn được vua Nhân Tông minh oan nhưng không thấy sử ghi chép. Hay chăng Người được đại xá vào ngày 21 tháng 2 năm Thái Hòa thứ 11, do Phan Phu Tiên quan Tu sử đề nghị, mở đường cho việc vua đích thân coi chính sự. Song với việc nhân dân xây dựng đến 3 đền thờ Trần Nguyên Hãn tại thôn Đa Cai, thôn Đức Lễ và tại làng Phan Lãng dưới triều Nhân Tông, và người con thứ (cũng có thể là út nam) là Trần Pháp Độ ra làm quan cũng là một minh chứng cho sự kiện người được minh oan.
Qua những dẫn chứng trên cho thấy Đại lão Sử thần Ngô Sĩ Liên (theo gia phả Ngài thọ 98 tuổi) người huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (tức không thuộc đồng hương Lam Sơn, Thanh Hóa) đã  khéo khéo ghi chép và giải thích về cái chết oan của vị tướng tài ba có công lớn với nước với dân. Trần Nguyên Hãn bị hãm hại là không thể tránh khỏi, bởi tâm trạng của Lê Lợi luôn lo ngại về ngôi báu của mình và con cháu mình, lại được nhóm nịnh thần Đinh Bang Bản tiếp sức, tạo cớ cho Lê Lợi thực hiện hành vi đại bất nghĩa đối với Trần Nguyên Hãn, một bậc kỳ tài đã giúp ông làm nên nghiệp lớn.
Sự kiện đau lòng diễn ra vào năm 1429, đến năm 1479, tức sau 50 năm được Sử thần Ngô Sĩ Liên thông qua thái độ phê phán nhóm nịnh thần, để tỏ lòng tôn kính vị anh hùng dân tộc, nhưng rất tiếc sự kiện Trần Nguyên Hãn được minh oan năm Diên Ninh lại không thấy ghi chép.
Sử cổ Sơn Đông chép:
 Thập đạo kinh luân mao ức lý nhân cựu trạch từ miếu:
Nếu những Hán tự sau đây đúng với nguyên bản gốc của sử làng Sơn Đông:
拾導經倫旄臆理湮舊宅祠廟.
Thì câu dịch nghĩa sẽ là:
Tấm lòng sau mười năm xông pha đi đầu nơi trận mạc, đã giành lại nước từ quân xâm lược. Ngài về lại ngôi nhà cũ đã lâu năm, sửa sang nơi thờ tự và nhà cửa.

( Mao: cờ mao có trang sức bằng lông bò tót, về sau thay bằng lông chim. Hàm chỉ cờ chủ tướng nơi chiến trận/ Ức: tấm lòng/ Kinh luân: giành lại được nước/ Thập đạo: 10 năm đi đầu xông pha chinh chiến/ : sửa sang/ Nhân: đã lâu năm/ Cựu: cũ/ Trạch: nhà/ Từ miếu: nơi thờ phụng tổ tiên).

Sử cổ Sơn Đông do hàng sĩ tử của làng Quan Tử ghi chép là khách quan, phù hợp với chính sử. Đã mô tả khá rõ tấm lòng thành thực của Người sau khi hưu quan về lại ngôi nhà xưa, trước hết lo việc sửa sang nơi thờ tự tổ tiên, cha mẹ đã dột nát sau nhiều năm không người hương khói, đến việc sửa sang nhà cửa. Công việc như còn đang dang dỡ thì bị triều đình đến vây bắt về kinh hãm hại.
Căn cứ những tư liệu khách quan trên thì nội dung lời bình của 3 tác giả đương đại, là sự xúc phạm đáng tiếc đến Đức vua Tả tướng quốc Tối linh tôn Thần cần phải được khắc phục.

2.     Về thời điểm hưu quan của Người:
Ngày 21/09/1428, Quy định phẩm tước của quan chức văn võ. Ban quốc tính cho các công thần. Thải quân già yếu, quy định biên chế quân ngũ.
Ngày 12/10/1428, ra lệnh cho các vệ quân đều đặt hỏa thủ làm chánh phó ngũ trưởng.
Thực chất những sự kiện trên là một cuộc cải cách quân đội, nhằm củng cố thực lực, ứng phó với tình thế khi đã tạo áp lực buộc Trần Nguyên Hãn đang giữ trọng trách Tả tướng quốc phải hưu quan. Vậy, Trần Nguyên Hãn hưu quan trong khoảng tháng 9/1429 là có cơ sở. Sau khi nghĩ hưu, công việc nhà còn đang dang dỡ, chưa một ngày nghỉ ngơi an hưởng thái bình, thì người bị triều đình hãm hại buộc phải trầm mình nơi bến Đông Hồ vào ngày 26/02/1429.

3.     Trần Nguyên Hãn đối với hai vua hậu Trần: Giản Định và Trùng Quang:
Năm 1410, Ngài đấy binh tại Rừng Thần, Sơn Đông, năm đó Ngài nhỏ nhất là 21 tuổi, lớn nhất là 25 tuổi (năm sinh của Ngài theo chính sử là 1390, theo gia phả là 1386). Cuộc khởi nghĩa của Giàn Định Đế (1407 – 1409) đã thất bại trước đó một năm nên không bàn việc phò Giản Định Đế. Kế theo là Trùng Quang Đế (1409 – 1413), do con của Nguyễn Cảnh Chân là Cảnh Dị, con Đặng Tất là Dung đều căm giận vì cha bị chết oan, đem quân Thuận Hóa về Thanh Hóa đón rước Trần Quý Khoáng Nhập nội thị trung đến Nghệ An lên làm vua. Năm 1409 tháng 3 ngày 17, vua lên ngôi tại Chi La (nay huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) đổi niên hiệu là Trùng Quang, lấy Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã.
Xét về sự kiện lập vua lên ngôi tại Chi La, trong điều kiện quân Minh chiếm đóng và cai trị đa phần lãnh thổ Đại Việt, từ Vĩnh Phúc đến Nghệ An lại xa xôi cách trở nên có thể chưa liên lạc được hoặc còn do dự thì thời cơ không còn, quân tướng nhà vua do bất hòa đã dẫn đến thất bại vào năm 1413.
Xét về tư tưởng và Thanh kiếm Gia bảo của Chiêu Minh Vương khi xưa được người mẹ truyền giáo, lại có vị Tướng già trợ giúp, làm quân sư, Trần Nguyên Hãn có thể thiếu tin về tài cầm quân của hai vị tướng trẻ cùng trang lứa là Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung.
Với hoàn cảnh khách quan đó, nhất là sự kiện lập vua lên ngôi tại Chi La, Ngài không dự phần vì không gian cách trở, khiến Ngài và nghĩa quân của mình không đến được với Trùng Quang Đế. Sau đó hai năm, Lê Lợi dấy binh tại Lam Sơn, lại được lời khuyên của Nguyễn Trãi người anh con cô nên diễn ra cuộc hội quân về với Lam Sơn, tôn Lê Lợi làm Minh chủ cùng nhau đánh quân xâm lược nhà Minh đến thắng lợi cuối cùng.
Hy vọng Ban biên tập cũng đã nhận được nhiều ý kiến góp ý khác nhau, trên cơ sở đó chọn lọc, bổ sung làm cho tập sách viết về Người được hoàn thiện hơn trong lần tái bản sắp đến.
                                                                             Thanh Châu, ngày 07/03/2012.

                                                                      Thực hiện: TRẦN PHƯỚC BÌNH.




Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

TRÍCH GIA PHẢ DÒNG HỌ TRẦN NGUYÊN HÃN - NGHỆ AN

 ĐỆ NHẤT THẾ TỔ TẢ TƯỚNG QUỐC TRẦN NGUYÊN HÃN
 (Đời thứ 12 của dòng họ Trần ở Việt Nam)
Trần Nguyên Hãn, sinh ngày: 1- 2 1390 (Canh Ngọ), tại làng Kẻ Gốm, nay là làng Quan Từ Đa Cao, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Cuối đời nhà Trần, Hồ Quý Ly lấn quyền, lũng loạn triều đình, lấn át vua Trần, tôn phái nhà Trần bị dồn ép và phân hóa. Cụ Trần Nguyên Đán đã mất, gia đình ông Trần Thúc Quỳnh là con trai thứ ba của ông, thực sự khó khăn. Ông Trần Thuần Đức, là con trai độc nhất của ông Trần Thúc Quỳnh, đã đổi tên là Trần Án, cùng vợ con chạy lên làng Kẻ Gốm, làm nghề ép dầu và khai phá vùng đất hoang để sinh sống. Trần Nguyên Hãn được sinh ra ở đây.
 Hồ Quý Ly giết chết Trần Án và người con trai đầu của ông. Vợ ông là bà Lê Thị Hoàn cùng người con nhỏ là Trần Nguyên Hãn thoát nạn. Trần Nguyên Hãn được học hành chu đáo, là người thông minh và chăm chỉ, có chí lớn, có tài cả văn lẫn võ. Năm 1415 ông đã tổ chức được lực lượng nghĩa quân Rừng Thần chống lại quân Minh, hạ được thành Tam Giang. Nghĩa quân do Trần Nguyên Hãn chỉ huy, đã làm chủ cả vùng Bạch Hạc, Phú Thọ. Năm 1418 Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn. Ông đã đưa nghĩa quân đến tham gia ngay từ buổi ban đầu, được Lê Lợi trao cho chức Tư đồ. Trong Kháng chiến chống quân Minh, ông là người có nhiều chiến công xuất sắc, được Lê Lợi thăng nhiều chức vụ quan trọng: Thái úy rồi Tả Tướng quốc.
Sau khi được phong chức Tả Tướng quốc, Trần Nguyên Hãn xin hưu quan. Lê Lợi đồng ý và cấp cho ông 100 mẫu ruộng, cùng một con ngựa. Ông trở về doanh sở cũ ở Sơn Đông. Mười hai tháng sau, ông bị vu oan là có âm mưu phản lại triều đình. Vua Lê Lợi hạ chiếu, gọi ông về triều đình khảo vấn. Trên đường về Thăng Long, tại bến Đông Hồ, thuyền ra giữa sông, ông đã từ trầm. Sau khi ông mất, Lê Lợi đã hạ chiếu bắt vợ, con ông về Thăng Long quản thúc.
Đến đời cháu Lê Lợi, là vua Lê Nhân Tông, năm Diên Ninh thứ nhất (1454), đã xuống chiếu minh oan cho Trần Nguyên Hãn, tha cho vợ, con và trả lại tài sản. Vua Lê Nhân Tông còn truy phong cho ông là Phúc thần, Khai Quốc nguyên huân và sai lập miếu thờ ông. Trần Nguyên Hãn mất ngày: 26- 10- 1429 (Kỷ Dậu), lúc đó mới 39 tuổi. Mộ ông được an táng ở Rừng Thần, tổng Sơn Bình, nay là huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ vào gia phả của các chi họ ở Sơn Đông, Minh Nông, di tích các đền thờ, ở vùng Kẻ Gốm thì ông có ba bà.
Bà cả: Người làng Cao Phong, xã Văn Quán, nay thuộc xã Sơn Đông, sinh được 1 con trai là Trần Doãn Hữu, tự là Trung Khang. Trước khi ông xuống thuyền về Thăng Long, ông cho bà và con trốn vào Rừng Thần. Sau trở lại Sơn Đông, chi họ hiện nay tại Quan Tử và một bộ phận di cư sang Tuyên Quang, là hậu duệ của tổ Trần Doãn Hữu
Bà hai: Lê Thị Tuyển, sinh được 2 con trai; Trưởng là Trần Trung Khoản; Thứ hai là Trần Đăng Huy, tự là Trần Trung Lương. Khi ông xuống thuyền về Thăng Long, thì bà và 2 con chạy sang làng Kẻ Nú, phủ Tâm Đới, huyện Phù Khang, trấn Sơn Tây. Người Con trai lớn tiếp tục đi tiếp và đổi ra họ Quách (theo gia phả chi họ Trần ở thôn Hồng Hải, Minh Nông, Việt Trì). Trần Đăng Huy thì đổi sang họ Đào, hậu duệ hiện nay là các chi họ ở vùng Bạch Hạc và Minh Nông, Việt Trì.
Bà thứ ba: Có tên gọi là bà Chúa Lôi, ở làng Xuân Lôi, tổng Văn Bình xưa. Bà và 2 con trai theo ông về Thăng Long, khi thuyền chìm thì người ta đã cứu được bà và một người con của ông.

ĐỆ NHỊ THẾ TỔ THIẾT CHẾ TƯỚNG CÔNG TRẦN PHÁP ĐỘ
 (Đời thứ 13 của dòng họ Trần ở Việt Nam)
Thiết chế Lễ Tướng công Trần Pháp Độ, húy Quốc Duy
Pháp độ tướng công Trần Quốc Duy, sinh năm 1424, là con trai của Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn, (theo gia phả viết vào thế kỷ thứ 17 của ông Trần Văn Lập, về dòng họ Trần Phổ Quang). Trần quốc Duy là một trong số đồng tử được cứu tại bến Đông Hồ. Ông cùng với mẹ bị triều đình Lê Lợi đưa về quản thúc tại Thăng Long. Năm 1454, đời vua Lê Nhân Tông (cháu Lê Lợi), niên hiệu Diên Ninh thứ nhất, đã đại xá, minh oan cho Trần Nguyên Hãn và tha cho vợ con ông. Trần Quốc Duy được Lê Nhân Tông vời vào triều làm quan với chức Thiết chế Lễ Tướng công. Năm Canh Dần (1470), đời vua Lê Thánh Tông, hiệu Hồng Đức nguyên niên, Trần Quốc Duy hưu quan, đưa vợ và 3 con trai về Tống Sơn, Thanh Hóa. Ở đây được 6 năm, ông để bà và Trần Đạo Tín ở lại. Ông đưa Trần Công Sủng và Trần Thiện Tính tiếp tục đi vào Nghệ An. Ông chọn chùa Liên Hoa, làng Phì Cam dừng chân, làm ăn sinh sống. Sau thời gian ổn định, ông cho Công Sủng trở lại Thanh Hóa vào ở chùa Sải, thôn Kim Cốc, xã Mai Lân, huyện Tĩnh Gia. Sau ngày Thiện Tính trưởng thành, ông tổ chức khai hoang, lập ấp ra xứ Nương Mao (nay là vùng đất Đông Bắc xã Vĩnh Thành, huyện Nhân Thành và xã Nam Hợp, huyện Yên Thành). Ông cùng con là Trần Thiện Tính về ở làng Hào Kiệt, xứ Tường Lai, ở đây ông làm thông gia với tướng Lê Sơn, hỏi bà Lê Từ Phúc cho ông Trần Thiện Tính.
Khi Trần Quốc Duy qua đời, mộ được an táng ở xứ Tường Lai.
Bà là: Lê Thị Từ Quang. Ông bà sinh được 3 người con trai:
       - Con trưởng là Trần Công Sủng, các chi họ hậu duệ hiện nay ở các xã phía Nam huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa và các xã phía Bắc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Nhà thờ chi trưởng ở Kim Cốc, Mai Lâm, Thanh Hóa. Còn có một chi có tông tích của dòng họ Trần Công Sủng, chi họ thờ tổ Trần Công Mạc, ở thôn Trung Xá, xã Vĩnh Thành.
- Con trai thứ hai là Trần Đạo Tín, các chi họ hậu duệ hiện nay lưu cư ở Tống Sơn (nay là Nga Sơn, Hậu Lộc), tỉnh Thanh Hóa. Còn một số chi họ mới phát hiện dấu tích dòng Trần Đạo Tín, là các chi ở Cầu Đục, Diễn Trường, Diễn Châu và Nhân Cao, Nhân Thành, Yên Thành.
- Con trai thứ ba là Trần Thiện Tính, tục hiệu là ông, bà Chân Thường, sinh hạ ra trực hệ dòng họ Trần Nguyên Hãn ở Nghệ, Tĩnh
Nhà thờ Trần Quốc Duy đã được chính thức đưa từ Phú Điền, Nhân Thành về Đan Trung, Diễn Thăng đã được 300 năm. Nhà thờ Pháp Độ Tướng công, Trần Quốc Duy ở Đan Trung, đã được nhà nước cấp bằng công nhận là Di tích Lịch sử, Văn hóa và Cách mạng, ngày: 27- 5- 1997. Có nhiều chi họ đã lập nhà thờ Pháp Độ ở Phú Hữu, ở đây có sắc phong: Pháp độ Trung đẳng thần, năm Khải Định thứ 2, năm Đinh Tỵ (1917).
Mộ của tổ Trần Quốc Duy táng ở xứ Tường Lai, Hào Kiệt, nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Mộ tổ bà Lê Từ Quang hiện ở Tống Sơn, Thanh Hóa.

 ĐỆ TAM THẾ TỔ NGHỆ TĨNH
 (Đời thứ 14 của dòng họ Trần ở Việt Nam)

Thế tổ khảo Trần Thiện Tính, húy Khương, hiệu là ông Chân Thường.
       Tổ bà là Lê Thị Từ Phúc, hiệu bà Chân Thường.
Hai tổ sinh được 3 con trai: Trần Chân Tịch, Trần Chân Tính, Trần Chân Thiên.
Thời chiến tranh Lê, Mạc (1526- 1533), ông đưa bà và 3 con chạy sang Phúc Điền, tiếp theo ông lại đưa ra ở Bàng Hòa quán, Hoàng Mai tự, ở đây ông phân cư các con. Ông Trần Chân Tịch khoảng 16-17 tuổi về ở chùa Bổn, làng Dàn, xã Đông Tháp (nay là xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu). Ông Trần Chân Thiên, gửi làm con nuôi ông họ Vũ ở thôn Diệu Ốc, xã Giai Lạc (chợ Mõ), nhưng không đổi họ. Ông, Bà cùng người con thứ hai là Trần Chân Tính ở lại Hoàng Mai. Sau lại chuyển đến chùa Mai Nữ, làng Bầu Quán, xã Yên Hậu (nay là xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu) và ông bà Chân Thường mất ở đó.
 Ông Huyền Linh (tức Trần Chân Thiên), là con thứ ba giỏi về địa lý, đã xin anh cả đưa mộ bố mẹ về song táng ở xứ Cồn Chu, trên xứ đồng của họ Trần ở Giai Lạc. Con cháu dòng họ Trần Nguyên Hãn, Nghệ Tĩnh đã tổ chức xây lăng cho hai tổ tại cồn Chu. Khánh thành ngày: 14- 7- 1999, năm Kỷ Mão. Giỗ ông bà Chân Thường hợp kỵ vào ngày: 14- 3, tại nhà thờ chi Trưởng, dòng Trưởng, ở thôn Đông Tháp, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

 ĐỆ TỨ THẾ TỔ NGHỆ TĨNH
 (Đời thứ 15 của dòng họ Trần ở Việt Nam)

 CHI TRƯỞNG
Tổ Trần Chân Tịch, húy Phúc Quảng, hiệu Huyền Nghiêm.
       Tổ bà là Hoàng Thị Tâm.
       Ông mất ngày: 23- 8, giỗ hợp kỵ cả ông, bà vào ngày: 27- 3.
Hai tổ sinh được 4 con trai, được mấy con gái không rõ, nhưng cả dòng họ Trần Chân Tịch đều thờ bà cô tổ Trần Quế Hoa Nương. Dòng trưởng Trần Chân Tịch, có trên ba mươi chi họ lớn nhỏ, đã tìm thấy phần lớn ở ven theo trục đường quốc lộ 1A đổ về phía biển từ miền Nam huyện Quỳnh Lưu đến huyện Nghi Lộc.
       - Con trai trưởng của ông bà Trần Chân Tịch, được gia phả ghi là: Tổ Trần Công Ngạn, ở Làng Thọ An. Đến nay đã tìm ra chi họ hậu duệ của tổ Trần Công Ngạn, hiện đang định cư ở xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và đã đổi từ họ Trần thành họ Cao.
       - Con trai thứ hai của ông bà Trần Chân Tịch là: Trần Phúc Thọ. Ông bà Thọ sinh được: Trần Thủ Hạnh, Trần Đắc. các chi họ này hiện nay ở hầu hết các huyện Diễn Châu, huyện Yên Thành, huyện Nghi Lộc.
- Con trai thứ ba của ông bà Trần Chân tịch là: Trần Chân Tâm. Ông Chân Tâm về ở xã Đông Lũy, nay là xã Diễn Phong, vào khoảng năm 1570, làm nghề dậy học và lấy bà Phạm Từ Khoan, đẻ ra Trần Chính Đạo.
- Con trai thứ tư của ông bà Trần Chân Tịch là: Trần Danh Di. Con trai của ông Trần Danh Di là: Hoàng Giáp Trần Danh Dĩnh đậu Khoa Giáp Thìn (năm 1724). Hậu duệ hiện ở xã Quỳnh Diễn, huyện Quỳnh Lưu.
Mộ tổ Trần Chân Tịch được an táng ở xóm Xuân Tháp, xã Diễn Tháp, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Nhà thờ tổ ở chi trưởng thôn Đông Tháp, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

Cuộc họp thông qua phương án xây dựng nhà thờ Họ Cả

Theo tin từ bác Cao Nguyên Tắc, (đời thứ 13 dòng họ Cao Trần) hiện nay là phó hiệu trưởng trường THCS xã Giao Tiến cho biết: cuộc họp thông qua phương án xây dựng lại nhà thờ Họ Cả được tiến hành vào hồi 14 giờ ngày 16 tháng 3 năm 2012 tại chính Từ đường họ.
Điều hành cuộc họp là Cụ Cao Trần Bốn, quyền tôn trưởng. Tham gia cuộc họ có các Cụ hàng 10, các ông các bác các chú và một số anh em trong các phái, các chi.
Các Cụ đã đi đến một phương án xây dựng lại nhà thờ như sau:
Tháo dỡ nhà thờ cũ, tận dụng phần gỗ có sửa chữa thay thế phần hư hỏng, chuyển về làm thành Trung Đường (vẫn có phần Hậu Cung, hình chữ Đinh), phần Bái Đường được xây lại theo kiểu vòm cuốn bằng gạch.
Các Cụ quan niệm làm như vậy tốt hơn phương án khung mái bê tông dán ngói vì quê mình vùng biển khí hậu mặn, bê tông cốt thép nhanh hỏng (?) Con cháu có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực xây dựng, kiến trúc nghĩ sao về việc này?
Như vậy nhiều đề xuất và nguyện vọng của con cháu, chưa thuyết phục được các Cụ. Các Cụ vẫn muốn làm theo cách làm trước đây, cứ hơn chục năm lại tu sửa nhà thờ, mà chưa biết đến khi nào họ Cao Trần có được một ngôi Từ Đường bền vững, tôn nghiêm và hoành tráng?
Ngoài ra các Cụ còn quyết định, không triển khai kế hoạch mua bán và thờ Hậu Tổ, vì các Phái các Chi đã có nhà thờ riêng. Hay một số gia đình đã mua Hậu Phật  ở các Chùa.
Các Cụ còn thông báo: Đã là con cháu Tổ, thì phải đóng tiền xây nhà thờ. Con cháu nào không đóng thì không xứng danh con cháu Tổ. Biết làm sao bây giờ?
Thật là một thông tin làm nhiều con cháu cảm thấy không mấy yên tâm.

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Ôn lại thân thế sự nghiệp của Tổ Tiên

       Tổ khảo Cao Quý Công tự Đăng Dụng (đời thứ 6)
Sinh năm    Kỷ Mão  (1759).
Ngày mất    6 – 9 năm Mậu Thân (1848), thọ 90 tuổi.
Ông là con trai truởng cụ Bá Tuân, huý là Đạo, tự Đăng Dụng. Thời triều nhà Lê ông làm Trung Lang tướng, cuối đời ông làm thuốc để lập nghiệp. Trước ông đã lấy một bà ở Diêm Điền, Thái Bình, sinh được một con trai tên là Lân bị mất tích. Năm 1995 mới được biết: Do Ba lạt phá hội năm 1787 cùng với  binh lửa loạn ly, cụ bà và ông Lân lưu lạc ở Thái Bình. Ngày nay con cháu ông Lân đã tìm về gốc tổ nhận họ. Ông Lân có tên là Dũng Trí, định cư ở vùng Văn Lý, Hải Hậu và là Thuỷ tổ dòng họ Cao ở Hải Hậu. Hậu duệ của ông đến nay đã có trên mười đời và là biệt chi của họ Cao - Trần, xã Giao Tiến.
Lời án thế phả cũ như sau:
Ông Đăng Dụng thiên tư trung hậu, tuổi trẻ có ý chí, nghị lực, đi sâu vào nghiệp học cùng với các danh sỹ và liêu hữu, trải qua nhiều lần thi cử, nhưng không thành đạt. Về già ông đi sâu vào thuyết phong thuỷ và y nghiệp tinh thông, chữa bệnh giúp đời, không đòi hỏi tiền công, để lại công đức cho đời sau.
Năm 1869 Hoàng giáp Tam đăng Phạm Văn Nghị, một nhà nho yêu nước, danh vọng đương thời, về thiết tướng tại xã, viết cho họ đôi câu đối liễn ký sự về thân thế, sự nghiệp của ông như sau:
“Kiếm đài cung thất, Lang tướng phong tiêu tứ thập tiền vi dịch cô thần, lưu thủ đan tâm hoàn tạo vật.
Dược phố thư trù, xá nhân tâm sự, ngũ thập hậu thái bình nhãn thuỵ, ký tồn hạnh phúc ấm linh nhi”
Lược dịch như sau:
“Thanh gươm yên ngựa, cờ tướng gió bay, bốn mươi năm trước, chút nghĩa cô thần, giữ tấm lòng son cùng tạo hoá.
Gánh thuốc túi thơ, xá nhân tâm sự, năm chục năm sau vì đời tận tuỵ, còn lưu hồng phúc để đời sau”.
Đôi câu đối tự sự trên đã tóm tắt đầy đủ về đạo đức, thân thế và sự nghiệp của ông.


Tổ khảo Cao Công húy Đức Trứ (tức Văn Quyến - Đời thứ 7)
Sinh năm Đinh Mùi (1787), đời Vua Lê Chiêu Thống năm thứ Nhất.
Mất ngày 29 - 12- năm Giáp Ngọ (1834) đời Vua Minh Mạng thứ 15, thọ 48 tuổi.
   Ông là con trai trưởng cụ Đức Mậu. Ông thông minh, chữ viết tốt, theo thi thư không đạt, làm Cai tổng khi mới 20 tuổi. Năm Quý Hợi (1803), đời Vua Gia Long năm thứ 2, khi đó đang đương chức, ông cùng với cha là Cao Đức Mậu, cộng sự với các ông trong xã là: Nguyễn Quý Thực, Lê Huy Diệu, Vũ Đình Cứ, tiếp tục đi khiếu kiện vụ: Làng Trà Lũ, huyện Xuân Trường tranh chiếm hơn 500 mẫu ruộng ở cánh đồng Bãi Phù sa của xã nhà. Kiên trì sau 15 năm vất vả, đến năm Mậu Dần (1818) đã lấy lại được hơn 500 mẫu ruộng về cho xã. Đáp lại công lao, xã đã dành 4 mẫu ruộng xứ Thượng Rộc, thù lao cho các ông để tỏ lòng biết ơn.

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Ông Cao Đăng Rong đóng góp ý kiến vào việc xây dựng nhà thờ Họ Cả

Kính gửi: Cụ Tôn trưởng dòng họ Cao Trần
                 Các cụ trong hội đồng Lão tộc

Cháu là Cao Đăng Rong 78 tuổi, đời thứ 12, thuộc cành cả, phái thứ, tiểu phái tổ Cao Đức Thiệm, hiện đang sinh sống cùng gia đình con cháu tại số nhà 188, đường Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Vũng Tàu.
Được tin thông báo của các em, các cháu từ quê nhà cháu biết các cụ đã có ý định trùng tu lại nhà thờ Họ Cả, trong thời gian tới. Đây là công việc rất hệ trọng với dòng họ và các thế hệ con cháu. Bản thân cháu là một kỹ sư xây dựng, đã từng tham gia thiết kế, chỉ đạo thi công nhiều công trình lớn, cháu xin có một số ý kiến đề nghị các cụ xem xét:
  • Cháu đề nghị các cụ lập tổ công tác, kiểm tra đánh giá mức độ xuống cấp của từ đường. Lập văn bản liệt kê chi tiết các hạng mục hư hỏng cần tu tạo. từ đó đưa ra quyết định về mức độ: sửa chữa, tôn tạo hoặc xây mới.
  • Dù thực hiện ở mức nào cháu cũng đề nghị các cụ có thiết kế chi tiết, lập dự toán vật tư kinh phí và làm hợp đồng kinh tế kí kết theo quy định của pháp luật.
  • Cháu đề nghị các cụ thống nhất quy chế mua, bán thờ cúng Hậu Tổ.
  • Trong công tác quản lý điều hành đề nghị các cụ thông qua quy chế làm việc, huy động con cháu với tấm lòng thành kính Tổ Tiên, phát tâm công đức và giao nhiệm vụ cho từng bộ phận, từng cá nhân cụ thể theo quy chế làm việc. Có kiểm tra đánh giá theo đầu công việc. Công việc nào mà con cháu không đảm nhiệm được hoặc làm không tốt, xin đề nghị các cụ nên thuê khoán người ngoài.
  • Cháu đề nghị họ ta cũng nên tổ chức rút kinh nghiệm các lần sửa chữa, tu tạo xây dựng các công trình tâm linh của dòng họ để thấy được những thành quả đã làm được và những thiếu sót cần khắc phục.
  • Trong các thế hệ con cháu, không phải ai cũng có điều kiện suy nghĩ và hành động như nhau. Việc đóng góp đối với một số con cháu cũng có phần cần phải tính toán cân nhắc và vận dụng phù hợp để đảm bảo đoàn kết trong dòng họ.
  • Nếu toàn thể dòng họ đồng tâm thống nhất thì mọi việc sẽ thuận lợi, nếu chưa thống nhất cao, cháu đề nghị các cụ cần bàn tính kỹ lưỡng và cụ thể hơn.
  • Nếu các cụ thống nhất việc xây lại nhà thờ Họ Cả, cháu đề nghị xây mới với kết cấu móng, khung trụ, mái bê tông dán ngói. Bên trong trang trí giả gỗ. Công trình nhà thờ cần có độ bền từ 50-100 năm không phải xây lại, nếu có chỉ sửa chữa và sắm sửa đồ thờ, nội thất.
  • Cháu đề nghị các cụ không xây cuốn theo kiểu kinh nghiệm hoặc làm theo cách được đến đâu hay đến đó.
  • Qua một số lần sửa chữa nhà thờ, xây và nâng cấp lâu mộ cụ Thái Tổ mà cháu có điều kiện tham gia cùng gia đình tiến cúng, cháu thấy có nhiều điều cần rút kinh nghiệm vì đã để lại dư âm và kết cục chưa được như mong muốn.
Trên đây cháu có một số ý mong muốn đề đạt đến cụ Tôn trưởng và các cụ Lão Tộc, kính mong các cụ quan tâm. Nếu có gì chưa phải cháu mong các cụ lượng thứ. Số điện thoại liên lạc của cháu: NR: 0643848424 hoặc  DĐ: 0918266540
Cháu xin kính chúc các cụ nhiều sức khỏe, kính chúc toàn gia tộc Cao Trần đoàn kết, vui vẻ sớm hoàn thành công trình tâm nguyện của cả dòng họ.
       (Thư này cháu đọc cho Cao Xuân Thiện ghi lại)

Vũng Tàu ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (2012)
                                                                              Cao Đăng Rong

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Tác giả Cao Trần Nguyên

Ông  Cao Trần Nguyên là cháu đời thứ 12 dòng tộc Cao Trần thuộc cành trưởng, phái thứ (Ất phái), tiểu phái Tổ Cao Đức Bằng.
Ông là tác giả của hai tập thơ "Hoa Lan" và "Nhớ chiều", nhà xuất bản Hội nhà văn. Người biên tập xin mượn lời nhà thơ Bùi Hoàng Tám, trong lời giới thiệu tác phẩm thơ của tác giả Cao Trần Nguyên:

Nhớ chiều - Nhật ký người xa quê  
    Tôi biết Cao Trần Nguyên qua một người bạn đồng nghiệp. Một hôm xuống Hạ Long được anh bạn giới thiệu và dẫn đến nhà ông chơi. Dân võ vẽ văn chương chỉ ngồi với nhau một lát là nhận ra nhau ngay. Nhất là khi ông nói về mê thơ Lục Bát, một thể thơ mà tôi hằng yêu thích.

    Có lẽ chưa bao giờ coi mình là nhà thơ, ông Nguyên làm thơ như người ta chơi cây cảnh hay cá cảnh vậy. Không cầu danh vọng hay lợi lộc văn chương, ông chỉ coi thơ như căn nhà ấm áp để nương tựa vào đó những phút giây đa cảm thông thường, mong muốn có được nhiều hơn nữa những niềm vui cho mình, cho gia đình và cho bạn hữu.
    Sinh năm Kỷ Mão (1939), nghĩa là sống già nửa thế kỉ 20 vắt sang thế kỉ 21, Cao Trần Nguyên đã viết về bạn, về mình… Đôi câu thế thái nhân tình… Bằng những tình tiết đã trải, đã cảm, đã tích luỹ được trong nhiều năm.
     Khi mới tám tuổi, thì người cha thân yêu  của ông đã ra đi khi nước nhà có biến khiến thơ ông dằng dặc nỗi buồn:
Nhớ đêm Mẹ thức thâu canh,
Xóm nghèo ngọn gió chiến tranh đổ về.
Đưa Cha ra tận bờ đê,
Tiễn đi thì có, đón về thì không..
(Nhớ)
Mẹ tôi không được tang chồng,
Cha đi, đi mãi mà không trở về
Chợ chiều họp ở đầu đê,
Chợ tan mà Mẹ chưa về. Đợi cha!
(Mẹ Tôi)
     Rồi  đến những ký ức về tuổi thơ – Câu thơ thường da diết nỗi nhớ:
Vậy mà lòng nổi gió giông
Nhớ ngày cắt cỏ, tắm sông thuở nào.
(Nhớ Xuân)
Nhớ hồng bếp lửa đêm đông,
Mẹ ngồi vá áo, chờ chồng trông con.
(Nhớ)
Con giờ tóc đã điểm hoa,
Ngồi nghe khúc hát dân ca nhớ người.
(Nhớ Mẹ)
     Khi vào tuổi Bốn Chín, người bạn đời rất đỗi yêu thương bỏ ông ra đi mãi mãi giữa lúc những đứa con cần Mẹ nhất: “Con thơ bé, anh dại khờ”… Bài thơ “Khóc Thầm” rất xúc động đã nói về sự mất mát lớn lao này:
Mây đen phủ kín đời mình,
Mười năm ba hạn cực hình em ơi!
Tưởng là đến thế là thôi,
Ai ngờ em bỏ cuộc đời em đi,
Sinh có hạn, tử bất kỳ,
Em đi em chẳng nói gì với anh.
Phận sao, phận mỏng, phận manh,
Hoa sao hoa vội lìa cành hoa rơi.

Rồi đây cuộc sống rối bời,
Nông sâu nào biết đâu nơi bến bờ.
      Ông cũng rất nhạy cảm với những ký ức buồn của bạn bè, chỉ nghe kể lại thôi – Ông cũng đã có những câu thơ lục bát-buồn thương nhớ:
Anh vào trong ấy lâu không,
Nhớ ra chớ để Mẹ trông, em chờ.
Em chờ anh, lỡ xuân thì…
Người chờ trót hứa… Người đi lại về…
(Chờ)
    Một trường hợp khác:
Với nhau một chút tình si,
Chỉ trong gang tấc, em đi về trời.
Tấm hình gửi lại cõi đời,
Sẽ theo ta xuống với người nay mai.
(Tấm hình)
    Thơ là tâm hồn, là tấm lòng -  nhưng nếu chỉ có tâm hồn và tấm lòng vẫn chưa thể có thơ. Để có thơ còn phải nói đến năng khiếu cộng với sự đam mê và vốn ngôn ngữ phong phú. Đặc biệt là với lục bát - một thể thơ bị trói buộc bởi vần điệu: “Làm cho khốc hại chẳng qua vì vần”. Rất mừng là trong tập thơ có những câu thơ khá ấn tượng, nhuần nhuyễn trong cách gieo vần mà hai câu sau đây là một trong các ví dụ:
Mưa Đông không có gió giông,
Chỉ là những hạt bụi bồng bềnh bay.
(Mưa Đông)
     Cách gieo vần lưng (không có-gió giông) và thả vần bằng chữ đầu của một liên từ “bồng bềnh”  và bốn chữ có âm đầu là “B” - bụi bồng bềnh bay – đã thể hiện tác giả cũng là người khá “cao tay ấn “. Tiếc rằng những câu thơ như vậy chưa nhiều.
     Mỗi một nhà thơ, mỗi một bài thơ và mỗi một tập thơ đều mang những sứ mệnh khác nhau. Nhớ Chiều mang dáng dấp của một cuốn nhật ký thông qua những hồi ức của một số phận có những vui buồn khác nhau. Chúng ta ghi nhận điều này ở tác giả…
                                                              
                                              Hà Nội, ngày 1/8/2010
                                                                                       Bùi Hoàng Tám
                                                                     (Hết lời bình)

Ngày 18 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (2012), Ông Nguyên cùng gia đình về quê Giao Tiến dự lễ tế Tổ dòng Cao Trần, ông đã viết bài thơ "Chị dâu tế Tổ", bài thơ đã được đăng trên trang lucbat.com và trang vanthoViet.com, đồng thời tác giả gửi trực tiếp cho blog hocaotran. Xin trân trọng giới thiệu bài thơ trên và cảm ơn tác giả Cao Trần Nguyên

Tặng Chị K dâu họ Cao Trần

Chị về tế tổ họ tôi
Bước lên, lùi xuống theo hồi trống rung...

Lệnh chầu: Dâng rượu - cúc cung
Khoan thai chị bước, ung dung chị chầu...

Áo xiêm vàng óng một mầu
Chân đi hài tía, đội đầu khăn xanh
...
Giá mà đừng có chiến tranh
Chị về tế tổ có anh cùng về.


Ngày 18 tháng Giêng Nhâm Thìn
giỗ tổ họ: Cao Trần. Giao Tiến. Giao Thủy. NĐ
____________________

Tác giả Cao Trần Nguyên
Email: caotrannguyen@yahoo.com


Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Một số hình ảnh sinh hoạt dòng họ của các thế hệ con cháu dòng Cao Trần tại quê nhà

Mừng tuổị, mừng thọ, bái niên là phong tục đẹp giàu tính nhân văn của bao vùng miền trên khắp cả nước, trong đó có dòng họ Cao Trần, tại Giao Tiến Hoành Nha.
Năm nào cũng vậy, cứ sáng mùng một Tết các thế hệ con cháu trong dòng họ, ăn mặc quần áo đẹp, sửa lễ vật vàng hương đễn nhà thờ họ. Các cụ Lão tộc làm lễ cúng Tổ năm mới, con cháu thắp hương lên bàn thờ Tổ. Sau đó là lễ bái niên các ông bà, các cụ tuổi tròn (tuổi mụ): 60, 70. 80 ....  
Sau lễ bái niên tại từ đường, các gia đình trở về nhà chuẩn bị đón khách đến chúc Tết, mừng tuổi. Đặc biệt các gia đình có cha mẹ, ông bà được bái niên con cháu tập trung đông đủ để chuẩn bị đón và tiếp khách. Nhà giàu thì làm cơm cỗ hoặc bánh kẹo loại sang, ngon đắt tiền. Nhà bình thường thì chuẩn bị chè nước, bánh kẹo đơn giản. Khách vào, khách ra tấp nập như trẩy hội. Lễ vật mừng tuổi cũng tùy tâm không câu nệ, chủ yếu là có mặt để chứng giám mừng tuổi chúc mừng năm mới gia đình. Phong tục bái niên mang lại cho cả chủ và khách những ấn tượng thật trong sáng mỗi dịp Tết đến xuân về.





Bái niên các cụ tuổi  70, 80, 90 tại từ đường họ cả - Tết 2010


Cụ Cao Quang Thạnh trao quà bái niên tuổi 70,
cho ông Cao Hữu Nghị tại từ đường phái thứ cành ̣ cả - Tết 2010

Chi họ phái Tổ Cao Đức Thiệm dự lễ bái niên ông Cao Hữu Nghị tuổi 70 tại nhà riêng - Tết 2010

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

RẤT CẦN SỰ TRÂN TRỌNG VÀ CẢM THÔNG CHIA SẺ


Tôi vốn sinh ra và lớn lên ở quê, đến tuổi trưởng thành tham gia Quân đội. Suốt quá trình học tập và làm việc tôi vẫn dành nhiều thời gian về quê, bởi cha mẹ vợ con và Tổ tiên ông bà nội ngoại của tôi đều ở quê nhà.
Tôi vẫn còn nhớ như in, một thời đất nước gian khó và chiến tranh. Rất nhiều nhà đứt bữa, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, đói và rét. Cả năm chỉ mong đến ngày Tết hoặc gia đình, dòng họ có giỗ mới hy vọng có bữa ăn tươm tất. Ấn tượng hơn cả đấy là ngày giỗ Tổ, ngày đó mỗi nhà trong dòng họ có phần xôi và thịt được chia sau khi cúng Tổ. Cũng trong ngày đó bọn trẻ chúng tôi rủ nhau đến nhà người được phân công làm lễ để xin nước luộc (ngày đó gọi là nước xuýt), về để chan cơm, sao mà thấy ngon và bổ. Cũng trong những năm tháng đó, nhiều gia đình con cháu trong dòng họ phải đi làm ăn xa: ra Hải Phòng, Quảng Ninh; lên Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn; vào miển Trung miền Nam; gần thì xuống Bạch Long, ra các xã ven biển để tìm kế sinh nhai, thoát cảnh đói kém. Nhiều anh em con cháu cố công học hành đi công tác trưởng thành làm rạng danh cho gia đình dòng họ.
Tôi vẫn nhớ các bậc ông cha, ở lại quê nhà làm ăn sinh sống. Mọi thành viên trong dòng họ hết mực thương yêu, quan tâm giúp đỡ nhau và luôn nhớ đến từng thành viên trong họ xa quê. Điều đáng trân trọng, các bậc ông cha luôn duy trì việc thờ cúng và chăm sóc phần mộ Tổ tiên. Để đến hôm nay dòng họ chúng ta đã có nhà thờ, lăng mộ họ Cả, các nhà thờ và lăng mộ họ Phái, họ Chi khang trang và tôn nghiêm. Những năm 60-70 của thế kỷ XX, khi HTX nông nghiệp tiến hành chỉnh trang đồng ruộng, đào sông, đào mương, đắp bờ vùng, bờ thửa. Mồ mả Tổ tiên, ông bà nằm rải rác khắp các cánh đồng. Việc quy tập lăng mộ Tổ lúc bấy giờ thật vất vả, thường phải chuyển mộ vào cuối năm, mưa phùn gió bấc, đường trơn, khiêng bộ. Nhiều dòng họ mất mộ, nhưng dòng họ chúng ta hầu như không bị thất lạc mộ Tổ tiên, ông bà. Đấy quả là kỳ công của các bậc ông cha bám trụ tại quê nhà.
Quê hương Hoành Nha Giao Tiến, là miền quê sống chủ yếu bằng nghề nông. Nghề phụ của các gia đình không phải là truyền thống, tùy theo khả năng và sự sáng tạo của mỗi gia đình, tự tạo lập cho gia đình và giúp đỡ người thân bằng các cách lập nghiệp riêng. Khá phổ biến là nghề thợ mộc và thợ nề, ngoài ra có một số gia đình làm ăn buôn bán nhỏ và đầu cơ theo thời vụ. Dù nghèo nhưng khi bàn việc công đức tâm linh cho dòng họ, hầu như gia đình nào cũng muốn đóng góp một phần kinh phí để xây dựng tôn tạo công trình tâm linh của dòng họ, của làng xã.
Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhà thờ, lăng mộ Tổ, các cụ, các ông bà, cha bác, con cháu đã tiến cúng những khoản kinh phí lớn có giá trị, từ một vài chỉ vàng đến bốn năm cây vàng. Đó là những nghĩa cử đáng trân trọng. Tôi được nghe kể lại, gia đình các cụ các ông các bà trong vòng 40 năm trở lại đây đã thường xuyên tiến cúng cao như: Gia đình: cụ Cao Xuân Thiệu, cụ Cao Xuân Hạ và con cháu, cụ Cao Trần Ức và con cháu, cụ Cao Ngọc Huyến và con cháu, ông Cao Xuân Vực và con cháu, ông Cao Đức Triệu, ông Cao Trần Nguyên và con cháu…
Trong thâm tâm các cụ lão tộc mong muốn để lại cho đời sau, những công trình tâm linh xứng đáng với tầm vóc dòng họ, nên muốn lập kế hoạch xây dựng từ đường nhà thờ họ cả thật khang trang đẹp đẽ, như các dòng họ lớn khác trong làng. Đó cũng là điều tâm nguyện của nhiều thế hệ con cháu. Nguyện vọng của số đông con cháu mong muốn các cụ chọn phương án thiết kế, bền chắc, khung trụ bê tông, mái bê tông dán ngói. Lòng đã thành, nhưng tâm vẫn còn có điều trăn trở: liệu phương án xây cuốn của các cụ có đảm bảo bền vững không? Khi đã có phương án thiết kế phù hợp, có dự toán cụ thể tương xứng với khả năng đóng góp theo suất đinh của toàn dòng họ thì việc huy động kinh phí sẽ không phải là việc khó. Bên cạnh đó các thế hệ con cháu có điều kiện “vẫn đang nghe ngóng” công tác tổ chức của hội đồng lão tộc dòng họ. Khi con cháu thấy mọi việc đã được bàn bạc hợp lý, thống nhất đồng thuận cao, con cháu sẽ sẵn sàng tiến cúng, mua Hậu Tổ với giá trị cao.
Theo cụ quyền tôn trưởng Cao Trần Bốn, dòng họ sẽ tổ chức cuộc họp mở rộng để bàn cụ thể hơn về phương án xây nhà thờ. Cụ cũng đề nghị các thế hệ con cháu có kiến thức, có kinh nghiệm, tham gia hiến kế, điều hành tổ chức để cùng các cụ thực hiện thành công, công trình xây dựng nhà thờ họ cả trong thời gian tới. Sắp tới các cụ sẽ mời toàn bộ các cụ trong hội đồng lão tộc, các ông, các bác, các chú đại diện cho các Phái các Chi và con cháu làm nghề xây dựng ở quê; thường trực chi nhánh dòng họ Cao Trần, Giao Tiến tại Hà Nội (ông Hồng, ông Vương), Hải Phòng, Lào Cai…Các con cháu làm về xây dựng (Chú Tiên, cháu Công, cháu Tuyến…), trực tiếp tham gia và đóng góp ý kiến vào bản thiết kế kiến trúc, tính kết cấu, lập dự toán và tổ chức thi công nhà thờ họ Cả.
Việc họ vừa là việc dễ nhưng cũng thật là khó. Con cháu khá đông, theo thống kê trong toàn dòng họ thì có trên 1000 suất đinh, nhưng không phải ai cũng có điều kiện, suy nghĩ và hành động như nhau. Ở đây cần nhất là sự trân trọng và cảm thông chia sẻ. Những người lao động ở quê thì không có điều kiện, nhưng vẫn duy trì nề nếp gia phong để nhà thờ Tổ quanh năm thơm làn hương khói, mồ mả Tổ tiên phong quang sạch đẹp. Con cháu đi xa về đến quê nhà cũng thấy ấm lòng, thiết nghĩ việc đóng góp theo quy định và tiến cúng tùy tâm là điều cần thiết.        
Cao Xuân Thiện (đời thứ 13)