Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

ĐỨC MẸ HIỀN 9 CHỮ CÙ LAO



Về quê tôi xuống thăm ông họ Cao Uy Tín. Ông cháu nói chuyện việc họ sau đó ông nhờ tôi tìm hiểu ba chữ “Đức cù lao 德劬勞”
Trước hết về nghĩa Hán Việt của chữ Đức cù lao 德劬勞
Chữ Đức 德: ân đức, đạo đức, thiện.
Chữ Cù 劬: nhọc nhằn, vất vả.
Chữ Lao 勞: lao động, làm việc.
Cụm từ Cù lao 劬勞: Công lao cha mẹ nuôi con vất vả nhọc nhằn.
Như vậy Đức cù lao nói về ân đức công lao cha mẹ đối với con cái.
Sau đây kính mời ông Tin Caouy và độc giả tham khảo (nguồn Chùa Ba Vàng) bài viết: Chín chữ cù lao – khắc sâu công ơn của mẹ.
“Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông
Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

HẬU SINH KHẢ ÚY VÀ XUẤT PHÁT CỦA TỪ THẦN ĐỒNG


(Tài liệu trích dẫn online và nguồn cảm hứng của bác họ Cao Đăng Rong)
Khổng Phu Tử (tiếng Trung孔夫子) hoặc Khổng Tử (tiếng Trung孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khưu (chữ Hán: 孔丘28 tháng 9, 551 TCN - 11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲尼). Ông được suy tôn như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

KHÚC NGUYỆN CẦU TRONG NGÀY GIỖ CHA


     Cao Xuân Thiện
Cha tôi đã rời cõi tạm đã tròn 10 năm. Lần giỗ thứ 10 này tôi đành lỗi hẹn với người thân, không thế có mặt tại quê nhà trong ngày giỗ Cha tôi. Một nén tâm nhang để vợi đi nỗi niềm của người con xa quê.
(Sau 10 năm Người khuất bóng. Mùng 8 tháng Tư năm Canh Tý)
Con từng ước Cha trăm tuổi Hạc
Khỏe mãi vui tóc bạc da mồi
Áo khăn sắc đỏ rạng ngời
Lễ mừng Đại thọ bồi hồi hư không.
Con đã cố gắng công học nghiệp
Để góp phần làm đẹp lòng Cha.
Công danh mẫn tiệp đường xa
Bước đi mấy độ con đà dần buông.
Cha Mẹ khuất, con vương vấn mãi
Nỗi buồn thương khắc khoải bủa vây
Đếm năm tính tháng nhớ ngày
Cha đi Hạ ấy đến nay tròn Mười.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

ĐỌC LẠI LƯU QUANG VŨ ĐỂ YÊU TIẾNG VIỆT NHIỀU HƠN



TIẾNG VIỆT
                                   Lưu Quang Vũ

                        Giọng ngâm Phan Xuân Thi

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

VỢ CHỒNG LÀ NGHĨA TAO KHANG

Cao Xuân Thiện
Sau khi viết bài về chủ đề Hôn nhân, bạn bè động viên người viết cũng thấy hiệu quả sau hơn một năm thử sức học chữ vuông thời nay chẳng ai muốn học. Bác Bảy đề nghị tôi chiết tự chữ Hạnh phúc, nhưng tôi thấy khó viết về 2 chữ này. Nay đọc sách thấy có chữ Tào Khang (thực ra là Tao Khang 糟糠 do cách đọc chệch đi của người Việt) lại gắn với vợ chồng. Chúng ta thử đi tìm hiểu điển tích của những chữ này.

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

THỬ TÌM HIỂU KHÁI NIỆM HÔN NHÂN

Cao Xuân Thiện
…“Hôn nhân lộc của Trời ban
Dở hay tùy biến khôn ngoan được nhờ”…
Từ khi lớn lên lập gia đình ai cũng hiểu “Hôn nhân” là việc lấy vợ, lấy chồng của đôi nam nữ, hoặc việc dựng vợ gả chồng của Nhà trai và Nhà gái. Chúng ta thử đi sâu tìm hiểu cặp từ Hán Việt này.
Gần đây từ “Hôn” có thể được coi là mĩ từ. Các nước phương Tây coi việc hôn như một nghĩa cử văn hóa xã giao có nguyên tắc. Ở xã hội phong kiến Việt Nam việc hôn nhau là cả một vấn đề hệ trọng. Đôi bạn trẻ trao cho nhau nụ hôn đầu, đó là sự xúc cảm hay chấp nhận một sự chuyển giai đoạn trong quan hệ. Còn nhiều tình huống và cách lí giải nữa mà tôi không thể đi sâu chi tiết.

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

BIÊN DỊCH GIA PHẢ HÁN NÔM VIỆT

BIÊN DỊCH HÁN NÔM VIỆT
CAO TRẦN TỘC THẾ THỨ PHẢ LỤC TỰ
LỜI MỞ ĐẦU

NGUYÊN - THỦY - BẢN - MỘC
Dòng họ Cao Trần tại xã Giao Tiến huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định ngày nay, theo các tài liệu sử phả truyền lại, có nguồn gốc từ họ Trần. Phúc đức và may mắn hơn nữa dòng họ còn lưu truyền và giữ lại được bộ Gia phả bằng chữ Hán, ghi lại thông tin từ đời thứ Nhất đến đời thứ 9.

Bộ gia phả quý của dòng họ hiện còn lưu giữ, được nhiều thế hệ Tổ tiên ông cha cung cấp thông tin và chắp bút qua nhiều thế hệ và là công việc của cả dòng họ trong rất nhiều năm. Thái tổ Vô Ý từ Bến đò Mía xã Thịnh, huyện Mỹ Lôi Dương, tỉnh Thanh Hóa. Nay là thôn Tứ Trụ, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa vì binh biến Thái tổ đã đưa Thái tôn về vùng đất mới làng Hòe Nha, phủ Xuân Trường trấn Sơn Nam hạ, nay là xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Thái tổ đã thay tên đổi họ sống cuộc sống dân dã để tính kế sâu rễ bền gốc. Các thế hệ từ đời thứ 3 đã được cha ông cho theo học chữ nghĩa và ra làm việc làng, việc nước. Thái tôn đã đóng góp tiền của và quy Phật hậu ở cả hai chùa Hưng Long và Hưng An trong làng và đã được tạc tượng thờ cúng cho đến ngày nay.

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

VĂN TẾ CHA

Đôi lời của tác giảCao Xuân Thiện.
Cách đây hơn 11 năm, Cha tôi Người trước đó rất khỏe mạnh bỗng lâm trọng bệnh. Cha tôi cũng khá tự tin vào sức khỏe của mình, nhưng sau 15 tháng chạy chữa, Cha tôi đã không qua khỏi. Dự báo tình huống xấu, một ngày không xa, Cha tôi sẽ từ biệt chúng tôi mãi mãi.
Dù lo lắng cho sức khỏe của Người, tôi đã chuẩn bị cho mình và người thân một kịch bản xấu nhất. Tôi viết bài thơ lục bát tặng Cha tôi khi còn tỉnh táo để Người đọc được suy nghĩ của tôi về Cha. Sau khi Người ra đi tôi thêm khổ thơ đầu và đoạn cuối để thành bài Văn tế Cha. Sau 10 năm Cha tôi đi xa. Tôi đã cố gắng duy trì những thành quả mà Cha Mẹ tôi để lại. Tôi mong muốn nhiều dịp trở lại quê nhà để hoài niệm, để thấu hiểu và cảm nhận tình cảm của Cha Mẹ tôi đã dành cho tôi lớn đến chừng nào.
Trong ngôi nhà Cha Mẹ tôi để lại, trong nhiều năm, mỗi năm nhiều dịp tôi lại một mình trở về nơi tôi được sinh ra, ở đấy có  bàn thờ với di ảnh của Cha Mẹ tôi. Tôi xin đăng lại bài Văn Tế Cha mà tôi đã viết cách đây 10 năm như một nén tâm nhang vẫn làm tôi thổn thức nỗi lòng và đốn mãi trái tim tôi.

VĂN TẾ CHA
 

Than rằng!
Sáu năm mẹ đã đi xa
Hôm nay lại đến lượt Cha theo cùng
Trời cao xanh chín tầng không
Đất dày có thấu nỗi lòng chúng con!

Nhớ Cha xưa:
Xuất thân dòng Tộc Cao Trần
Tổ tông, Gia thế muôn phần hiển vinh
Khiêm nhường làm việc hết mình
Vượt lên gian khó, chiến chinh đói nghèo
Nhớ năm Ất Dậu gieo neo
Ông Bà  con đã chống chèo vượt qua

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2020

DỊCH CÂU ĐỐI TỪ ĐƯỜNG TÂN PHÁI



        I.                   Bộ thư nhất (Cụ Đồ Vượng viết)
                       
MẠCH DẪN TAM SƠN HỒI VƯỢNG KHÍ
                      恩 波
NGUYÊN LƯU TỨ THỦY TIẾP ÂN BA
Dịch nghĩa:
-         Mạch dẫn từ ba ngọn núi trở về làm tăng sự sống
-         Dòng chảy từ bốn nguồn nước tiếp thêm sóng ơn nghĩa.

  II.               Bộ thứ 2
      基 義      
NHÂN CƠ NGHĨA CHỈ TỒN THIÊN ĐỊA
  柱 立        在古 今
TRỤ LẬP DUY TÔN TẠI CỔ KIM
Dịch nghĩa:
-         Nhân nghĩa với cơ đồ nguồn gốc thì bảo lưu cùng trời đất
-         Trụ lại dựng lên duy trì tôn tạo (nơi thờ cúng) thì còn mãi xưa nay.
 
THAM KHẢO THÊM ĐẠI TỰ VÀ CÂU ĐỐI TRONG TỪ ĐƯỜNG: https://langduytinh.com/con-chau-can-biet-tho-cung-to-tien-phan-thu-ba/

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

ĐÔI ĐIỀU VỀ VIỆC PHÂN NHÁNH CÀNH PHÁI TRONG DÒNG HỌ

Trong nhiều dòng họ lớn ở vùng Đồng bằng Bắc bộ, sau nhiều thế hệ con cháu dòng họ được chia thành nhiều Cành (Chi) và nhiều Phái. Không phải ai cũng hiểu thấu đáo các khái niệm này. Thậm chí có nhiều người quan niệm Phái là hàng trên của Cành (Chi) hoặc ngược lại. Với kiến thức chữ Hán của mình tôi thử bàn về khái niệm này.
Các cụ xưa có câu:
Người ta có Tổ có tông.
Như cây có cội như sông có nguồn.
Cụ tổ đầu tiên lập ra dòng họ gọi là cụ Thủy tổ (始祖). Sau này dòng trưởng được thờ cúng theo Tổ được gọi là Phái (Cành, Chi) trưởng (cả). Từ đường chung của cả dòng họ được gọi là họ Cả. Các Phái (Cành, Chi) còn lại được sắp xếp theo thứ tự quy ước của mỗi dòng họ.