Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

CẬP NHẬT THÔNG TIN TỪ GIA PHẢ HỌ CAO TRẦN

Tết nguyên đán 2013, tại Nhà thờ họ Cả, họ Cao Trần
 Biên tập viên trang Blog Họ Cao Trần, quan tâm đến một chi tết trong dòng thông tin của gia phả dòng họ Cao Trần (xuất bản năm 2020) trang 19, mục viết về Nhà thờ lăng mộ, xin trích dẫn như sau:

Năm 1787 sau một trận lũ lớn, sông Hồng đổi dòng đổ thẳng ra biển mở ra cửa Ba Lạt. Thiên tai nặng nề, vì vậy toàn ấp lại phải tập trung xây dựng lại lần thứ hai. Thời kỳ này từ đường họ cũng phải di chuyển về đất mới ở Cựu Thượng. Tiếp theo lại chuyển về Thổ Nện, nay là thôn Bảo Thắng.

Năm Vua Tự Đức thứ 26, 27 (1873 - 1874) từ đường họ chuyển về vị trí hiện nay (thôn Cộng Hòa), chính là khu đất của Cành trưởng, do ông Cao Đăng Phong (đời thứ 7, Giáp phái) chủ trì xây dựng”.

Tôi đã sang khu vực thôn Bảo Thắng, nay là thôn Bảo Chính (làng Hoành Nha) hay còn gọi là khu Ao Bom (từ sau năm 1954), hỏi thăm các vị cao tuổi. Người cung cấp thông tin khá cụ thể là ông Hoàng Văn Tám (đời 14 họ Hoàng Vọng) cho biết:

Trước đây khu vực này là khu Thổ Nệu cách Cầu Đất khoảng 150 m gần đấy có án thờ thổ thần của khu Nệu. Khu Nệu có một thổ cư đất nổi của người họ Cao Trần, bán lại cho cụ Vãng (người họ Vũ Đình), cụ Vãng mất để lại cho con trai là cụ Trọ, cụ Trọ để lại cho ông Nga, ông Nga để lại cho bác Sơn. Hiện nay gia đình con cháu bác Sơn đang sinh sống ở khu đất này. Như vậy sau hơn 150 năm (kể từ năm 1874), gia đình cụ Vãng đã có đến 6 thế hệ ở trên mảnh đất mua lại của họ ta.

Bản đồ xã Giao Tiến cũ (trước 01/09/2024 theo Google map)

Gần thổ cụ Vãng có một khu ruộng, của người họ Cao, sau Cách mạng Tháng 8 gia đình ông bà Biển (chi chà nhà bác Vực), phái Ất đã từng cày cấy nhiều năm. Đến đầu những năm 1960’s có giai đoạn một thửa được cúng vào chùa Thượng. Sau đó đưa vào quản lý của HTX nông nghiệp địa phương.

Như vậy khu vực mà tổ tiên ta đã dựng Nhà thờ họ Cao Trần là Thổ Nệu mà gia phả chữ Quốc ngữ viết là Thổ Nện. Không rõ việc tồn tại của ngôi từ đường trong khoảng thời gian 87 năm (từ năm 1787 đến 1874) qua hai khu vực Cựu Thượng và Thổ Nệu mỗi khu là bao nhiêu năm trong Gia phả dòng họ không nói cụ thể.

Như vậy từ đường họ Cả của dòng họ Cao Trần đã được xây dựng và cố định ở vị trí hiện tại từ năm 1873 đến nay là 152 năm, sau 6 lần trùng tu nâng cấp vào những năm: (1840-1850), (1875-1880), (1905-1910), (1977-1978), 1997, 2012; chưa kể các lần nâng cấp sửa chữa qui mô nhỏ.

2 nhận xét:

  1. Kính chào tác giả bài viết. Tôi chỉ là cháu ngoại của dòng họ Cao Trần, xin phép được góp vài lời.
    Trước hết cám ơn tác giả rất nhiều vì đã cho thông tin rất quý giá. Tôi đặc biệt quan tâm về quá trình thành lập, dịch chuyển của Thôn Thượng từ ngày lập làng ở Ngô Đồng đến vị trí hôm nay. Theo thông tin của tác giả thì Thôn Thượng sau Ba Lạt Phá Hội di dời về Cựu Thượng (giữa trục đường thôn Đoàn Kết và đê Sông Sò, giáp Hoành Tứ). Nhưng vì ở đó trộm cướp quấy phá nên di dời dần về địa chỉ ngày nay. Con đường dịch chuyển có đi qua Thổ Nệu (ít nhất một phần dân cư họ Cao của thôn dừng tại đó).
    Như vậy, quy hoạch và lập dựng nhà cửa của thôn ở vị trí ngày nay đã tạm ổn vào thập niên 70 thế kỷ 19.
    Lịch sử Hoành Nha (và Thông Thượng nói riêng) có hai vết mờ lớn: 1. Vị trí chính xác của làng cũ (trước 1789) ở đâu? 2. Qua trình dịch chuyển từ Cựu Thượng về Cộng Hòa- Việt Dũng như thế nào? Câu hỏi 2 đã có chút thông tin soi rọi.
    Một lần nữa xin cám ơn tác giả bài viết.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. BTV trang Họ Cao Trần, trân trọng cảm ơn TS Hoàng Quang đã quan tâm ghé thăm và có ý kiến để cùng chúng tôi tương tác.
      Hai nội dung TS Quang đã đề cập cũng là 2 vấn đề quan tâm của nhiều thành viên yêu làng quê Hoành Nha. Các tài liệu để có thể truy cứu, hầu như rất ít. Gia phả chữ Hán các dòng họ, duy chỉ có họ Nguyễn (ông Ía), có cuốn gia phả chữ Hán, cũng chỉ biên dịch từ năm 1882 (Tự Đức Nhâm Ngọ niên).
      Gia phải chữ Hán họ Cao Trần cũng được chép lại từ năm 1960.
      Trở lại vấn đề Thôn Thượng và làng Hoành Nha có từ thời gian nào?
      1. Theo Gia phả chữ Hán họ Nguyễn, có bài thơ Nôm, có 2 câu đề cập đến sự thành lập làng Nha (tiền thân của làng Hoành Nha) cũng như 3 thôn: Thượng, Trung, Chính.
      ...Năm thứ hai Chính Hoà thái vận (1681)
      Lập làng Nha phụng chuẩn dân cư
      Thượng - Chính - Trung ba phiến địa dư
      Ba vũ trụ linh từ phụng sự...
      Có thể sau 1787 hình thành vùng đất Giao Thủy nằm bên Hữu Ngạn sông Hồng, tả ngạn sông Sò, chính quyền phong kiến lập Lục Hoành thì làng Nha trở thành làng Hoành Nha.
      Còn về vị trí ban đầu, theo câu đối trước cửa miếu Thượng:
      - ĐÀ GIANG KHÍ PHÁCH LƯU THIÊN CỔ
      - ĐỒNG THỦY LINH TỪ TRẤN NHẤT PHƯƠNG.
      Dịch nghĩa:
      - Khí phách sông Đà chảy từ ngàn xưa.
      - Ngôi đền thiêng bên dòng nước Ngô Đồng trấn ải một phương.
      Như vậy Làng Nha và ngôi đền Thượng trước đây ở gần cửa Ngô Đồng.
      2. Theo gia phả họ Cao Trần:
      Địa phận ấp Hòe Nha ban đầu ở vào khoảng Ngô Đồng ngày nay. nằm bên tả ngạn sông Hồng (cửa sông Hồng đổ ra biển Đông, khi đó là của Hà Lạn). Phía Đông Bắc giáp Dương Liễu Thái Bình, ngăn cách bằng con sông nhỏ (tương truyền hai bên cửa sông qua lại bằng một chiếc cầu tre nhỏ, buộc bằng ba cái lạt, trận lũ lịch sử năm 1787 phá sông nhỏ này thành dòng chính của Sông Hổng đoạn từ cống Ngô Đồng đổ ra biển). Từ đó cửa sông Hồng ra biển được gọi là cửa Ba Lạt. Phía Bắc và Tây Bắc giáp sông Hồng; sau năm 1787 đoạn sông hồng từ Ngô Đồng xuống cửa Hà Lạn thu hẹp lại, nay gọi là sông Sò, phía bên kia là huyện Xuân Trường. Phia Đông và phía Nam, giáp bãi bồi biển Đông.
      Vào những năm cuối niên hiệu Dương Hòa (1635-1643), đời vua Lê Thần Tông (1619-1643), do vùng đất mới kém ổn định hay bị lún và sạt lở, nên dân cư đã chuyển dần về phía cửa Hà Lạn, để tiếp tục khẩn hoang và xây dựng làng ấp. Việc hình thành làng ấp diễn ra trong 321 năm (1456-1787), trải qua nhiều thế hệ khai hoang lấn biển, làm thủy lợi, ổn định nơi ở, phát triển sản xuất, xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, văn hóa xã hội… Hoành Nha dần trở thành một làng hoàn chỉnh, trù phú ở vùng đất mới của huyện Giao Thủy.
      Theo tài liệu lịch sử thì Tổng Hoành Nha được hình thành vào thời Lê Cảnh Hưng (1750-1770) bao gồm 19 xã: Đông Bình, Diêm Điền, Hoành Đông. Hoành Nhị, Hoành Tam, Hoành Tứ, Hoành Lộ, Hoành Nha, Khắc Nhất, Ngưỡng Nhân, Lạc Nông, Duyên Thọ, Tiên Chưởng, Sa Châu, Thanh Khiết, Đan Phượng, Vân Trì, Quất Lâm Thượng, Quất Lâm Hạ.
      Như vậy ấp Hòe Nha được đổi thành xã Hoành Nha có thể vào thời này hoặc sớm hơn. Một số tài liệu cho rằng, ấp Hòe Nha được đổi thành xã Hoành Nha vào thời kỳ xây dựng làng xã lần thứ 2, tức là sau năm 1787 là không chính xác.
      Như vậy việc xác định các móc thời gian và vị trí địa lý của làng Hoành Nha, các thôn, xóm đều là suy luận chưa phải là dữ liệu chính xác.

      Xóa